
Không chỉ bơm vốn, nền kinh tế cần "siêu đòn bẩy" để bứt phá nửa cuối năm 2026
Khép lại nửa đầu năm 2026, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng 8.18%, tạo tiền đề cho chặng đường tiếp theo. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm nay, nền kinh tế đòi hỏi những gói kích cầu đủ mạnh, khơi thông dòng vốn và chiến lược điều hành để giữ vững ổn định vĩ mô.

Đánh giá về mục tiêu tăng trưởng 10% của năm 2026, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TPHCM (VIFC-HCMC) - nhận định, đây là con số rất tham vọng nhưng không hoàn toàn thiếu cơ sở nếu nền kinh tế được tiếp sức bằng một gói thúc đẩy đủ mạnh.
Ông Huân lưu ý rằng, trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn duy trì mặt bằng lãi suất ở mức 3.5 - 3.75% và phát tín hiệu thận trọng trước áp lực lạm phát, tỷ giá và dòng vốn toàn cầu sẽ tiếp tục chịu sức ép.
Đối với Việt Nam, mức tăng trưởng 8.18% sau nửa đầu năm là tín hiệu tốt, nhưng để đạt mục tiêu 10% cả năm, tăng trưởng các quý còn lại phải cao hơn rất nhiều, đặc biệt nửa cuối năm cần duy trì mức 2 chữ số. Trong bối cảnh World Bank dự báo tăng trưởng Việt Nam năm 2026 khoảng 6.8%, lạm phát khoảng 4.2%, có thể thấy mục tiêu 10% là kịch bản cao, đòi hỏi điều hành rất quyết liệt.
Theo đó, kịch bản cơ sở là GDP năm 2026 có thể đạt khoảng 7.5 - 8.2%, nếu xuất khẩu, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tiêu dùng và đầu tư công tiếp tục được duy trì tốt. Kịch bản tích cực hơn, khoảng 8.5 - 9%, có thể xảy ra nếu giải ngân đầu tư công bứt phá, tín dụng đi vào sản xuất - kinh doanh, bất động sản phục hồi có kiểm soát và đơn hàng xuất khẩu tiếp tục cải thiện. Riêng với kịch bản đột phá 10%, cần có sự cộng hưởng rất mạnh từ đầu tư công, cải cách thể chế, kích hoạt các dự án hạ tầng lớn, trung tâm tài chính quốc tế, kinh tế số, đổi mới sáng tạo và khu vực tư nhân.
Về lạm phát, áp lực sẽ lớn hơn ở nửa cuối năm do giá năng lượng, tỷ giá, lương, dịch vụ công và cầu nội địa phục hồi. Tuy nhiên, nếu điều hành tốt giá xăng dầu, điện, lương thực và tín dụng, lạm phát cả năm vẫn có thể kiểm soát quanh 4 - 4.5%.

Rủi ro lớn nhất, theo ông Huân, là Fed duy trì lãi suất cao, USD mạnh, giá dầu biến động, căng thẳng địa chính trị, xuất khẩu chậm lại và áp lực nợ xấu ngân hàng. Ngược lại, hỗ trợ lớn nhất của Việt Nam là nền tảng vĩ mô ổn định, FDI vẫn tích cực, đầu tư công còn dư địa lớn, tiêu dùng phục hồi và quá trình cải cách thể chế đang được đẩy mạnh. Vì vậy, trọng tâm từ nay đến cuối năm không chỉ là bơm thêm vốn mà phải đẩy nhanh hấp thụ vốn vào nền kinh tế thực, đặc biệt là hạ tầng, công nghiệp, công nghệ, tài chính xanh và các động lực tăng trưởng mới.

Chia sẻ góc nhìn về bối cảnh kinh tế nửa cuối năm, ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi - cho rằng, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu kép là vừa tăng tốc phát triển vừa phải bảo đảm an toàn tài chính trước những biến động bên ngoài. Mặc dù lạm phát toàn cầu đã hạ nhiệt, các nền kinh tế lớn vẫn ưu tiên chính sách tiền tệ thận trọng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn có cơ sở để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao nhờ vào 4 động lực cốt lõi.
Động lực đầu tiên là đầu tư công. Việc đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án hạ tầng chiến lược về giao thông, năng lượng, chuyển đổi số và logistics sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn đối với nhiều ngành kinh tế, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia.
Động lực thứ hai từ tiến trình cải cách thể chế và cắt giảm thủ tục hành chính. Việc đơn giản hóa quy định, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp lý sẽ giúp giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và khơi thông các dòng vốn đầu tư.
Động lực thứ ba là quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang được thúc đẩy mạnh mẽ. Đây không chỉ là xu thế tất yếu của nền kinh tế toàn cầu mà còn là cơ hội để Việt Nam nâng cao năng suất lao động, phát triển các mô hình kinh doanh mới và từng bước chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo.
Động lực thứ tư là sự phát triển của các ngành có tiềm năng tăng trưởng cao như công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ du lịch, logistics, y tế và giáo dục. Đây là những lĩnh vực vừa có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn, vừa góp phần mở rộng quy mô nền kinh tế trong trung và dài hạn.
Bên cạnh đó, môi trường lạm phát đang xuất hiện những yếu tố thuận lợi hơn. Giá dầu thế giới giảm đáng kể sau khi nguồn cung từ Iran được cải thiện và hoạt động thương mại qua eo biển Hormuz được khôi phục đã góp phần giảm áp lực chi phí đầu vào đối với doanh nghiệp, đồng thời tạo thêm dư địa cho công tác điều hành chính sách tiền tệ.

Trong kịch bản cơ sở, tăng trưởng GDP của Việt Nam trong nửa cuối năm có thể tiếp tục duy trì ở mức tích cực và cao hơn nhiều nền kinh tế trong khu vực. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng ở mức 2 chữ số là mục tiêu đầy tham vọng và đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính sách.
Mục tiêu này sẽ phụ thuộc rất lớn vào tiến độ giải ngân đầu tư công, tốc độ cải cách thể chế, khả năng phục hồi của doanh nghiệp, hiệu quả thu hút đầu tư và sự ổn định của môi trường kinh tế quốc tế.
Về lạm phát, nhiều khả năng vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát nhờ giá năng lượng hạ nhiệt, nguồn cung hàng hóa tương đối ổn định và năng lực điều hành linh hoạt của Chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tuy nhiên, áp lực từ sự phục hồi của tổng cầu, tăng trưởng tín dụng và điều chỉnh giá một số dịch vụ công vẫn cần được theo dõi chặt chẽ.


Ông Nguyễn Hoàn Niên - Trưởng phòng cấp cao, Trung tâm phân tích, CTCK Shinhan Việt Nam (SSV) - nhận định, nền kinh tế nửa cuối năm sẽ được 3 động lực chính dẫn dắt, gồm: dòng vốn ngoại, đầu tư công và sản xuất nội địa. Để duy trì mức tăng trưởng cao liên tục trong vòng 5 năm, tỷ lệ đầu tư toàn xã hội cần đạt từ 35 - 40%/năm.
Ông Niên nhấn mạnh rằng, cấu trúc vốn của nền kinh tế hiện nay đang phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng. Do đó, việc phát triển và nâng hạng các kênh thị trường vốn như cổ phiếu và trái phiếu là điều kiện bắt buộc để cung cấp nguồn vốn dài hạn, phân tán rủi ro và thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài. Thực tế cho thấy, đòn bẩy đầu tư công đang phát huy tác dụng rõ rệt khi tốc độ giải ngân tăng trưởng vượt bậc.

Tính đến tháng 5/2026, số liệu cộng dồn 12 tháng của đầu tư công đã tăng 25.88% so với cùng kỳ. Việc đẩy mạnh giải ngân trong lĩnh vực này được kỳ vọng sẽ đóng góp trực tiếp từ 0.5 đến 0.8 điểm phần trăm vào mức tăng GDP của các năm tới. Cùng với đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với tỷ trọng chiếm gần một phần tư nền kinh tế cần duy trì tốc độ tăng trưởng từ 9% đến 10% để tạo lực kéo chung.
Ông Niên ủng hộ kịch bản tích cực cho năm 2026 với dự báo GDP đạt 10%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14%, lạm phát ổn định ở mức 4.5%, tỷ giá biến động trong biên độ hẹp khoảng 1% và quy mô đầu tư công có thể đạt mốc 1.06 triệu tỷ đồng.

Cát Lam
Thiết kế: Tuấn Trần