Chuyện của những chiếc drone giảm phát thải: Xu hướng mới và rào cản hiện hữu

Khi ESG và câu chuyện giảm phát thải đã trở thành xu thế chung để phục vụ mục tiêu Net Zero như đã cam kết tại COP26, các nền kinh tế đang cần tìm ra những giải pháp cụ thể nhằm hiện thực hóa câu chuyện này, đặc biệt là sự chuyển đổi lớn hơn từ khoa học công nghệ. Trong đó, drone đang được đánh giá là một trong những sự chuyển đổi tiềm năng.
Hiện tại, drone mang theo những kỳ vọng về một sự thay thế dành cho các phương tiện truyền thống, với tiềm năng đóng góp đáng kể vào bài toán giảm thải khí nhà kính đang gây đau đầu cho các quốc gia. Người viết đã có dịp trò chuyện cùng ông Võ Duy Quý - Giám đốc quốc gia Aonic Việt Nam, một doanh nghiệp có vốn đầu tư từ Malaysia chuyên về drone bay (UAV - thiết bị bay không người lái) và các giải pháp liên quan - để hiểu hơn về tiềm năng của loại hình này đối với xu thế phát triển bền vững hiện tại.

Với xuất phát điểm từ ngành kỹ thuật và là một chuyên gia trong lĩnh vực này, ông Võ Duy Quý có thể xem là một trong những người hiểu rõ nhất tiềm năng và ứng dụng của drone trong các ngành nghề của nền kinh tế hiện nay.
“Aonic có thể cung cấp các giải pháp đa dạng về drone, từ UAV cho đến phần mềm (giải pháp tổng thể), phục vụ chung cho liên ngành nông nghiệp, công nghiệp, điện lực, năng lượng, dầu khí, xây dựng, kiến trúc, cứu hộ, cứu nạn…”, trích lời ông Quý.
Theo ông Quý, drone hiện tại được ứng dụng trong rất nhiều mảng, đặc biệt là nông nghiệp và công nghiệp. “Trong nông nghiệp, người ta ứng dụng drone để rải phân, gieo giống, phun thuốc bảo vệ thực vật… giúp cây trồng phát triển tốt hơn.
Trong công nghiệp, Aonic có các giải pháp cụ thể, như trong kiến trúc có thể áp dụng các giải pháp đo đạc, 3D, hỗ trợ với độ chính xác đến từng centimet. Hay như cứu nạn, cứu hộ… drone có thể tìm kiếm, hỗ trợ cứu hộ, với các trường hợp tai nạn trên núi, dưới nước, ngoài biển…”, ông Quý chia sẻ.
Bên cạnh đó, drone cũng được ứng dụng rất mạnh trong vận tải hàng hóa, có thể dùng để vận chuyển khoảng 40kg trong khoảng cách hàng chục kilomet, phục vụ các nhu cầu trong xây dựng, hàng hóa tiêu dùng khác.
“Drone không chỉ có máy bay (UAV), mà còn có các loại dùng trên mặt nước và dưới mặt nước. Nhiều công ty tại Việt Nam đã đầu tư vào ngành công nghiệp này, như CT UAV, Realtime Robostic, Saolatek, Gremsy… Do vậy, độ phổ cập cho drone hiện tại rất cao”.

Theo vị chuyên gia, drone được ứng dụng rộng khắp không chỉ nhờ sự tiện lợi, mà còn vì khả năng hỗ trợ giảm phát thải với những con số đầy tiềm năng và ấn tượng.
“Số liệu giảm phát thải từ drone rất ấn tượng. Theo nghiên cứu, báo cáo giảm phát thải gần đây tôi tham gia thì trong nông nghiệp, với 500 triệu ha đất dùng drone để rải phân, giống cây… trong 1 năm có thể giảm lượng phát thải 25-26 triệu tấn CO2. Đây là con số thực tiễn, đã được thống kê và có nghiên cứu đánh giá”.

Đối với ngành công nghiệp, những con số thậm chí gây ấn tượng hơn. Ông Quý lấy ví dụ trong ngành điện lực, để kéo dây mồi hoặc các công tác trong ngành, trước kia phải đùng đến trực thăng - một phương pháp tốn kém và tạo ra lượng phát thải rất lớn. “Chẳng hạn như để tuần tra cho khoảng 22,000km đường dây, lượng phát thải khi dùng drone so với trực thăng có thể giảm tới 258 tấn CO2 trong cùng 1 khối lượng công việc. Mỗi giờ bay của drone dùng pin lithium chỉ phát thải dưới 5kg CO2, trong khi trực thăng là 235 kg. Drone cũng góp phần làm giảm ô nhiễm tiếng ồn do hoạt động êm ái hơn các phương tiện truyền thống”.
Trong logistics, ông Quý dẫn lại một nghiên cứu đăng trên EPA (Cục Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ), so sánh hiệu quả giảm phát thải của drone trong vận tải hàng hóa và phương tiền truyền thống (ô tô). Qua thực nghiệm, cùng 1 khối lượng vận chuyển từ A-B bằng drone và ô tô. Kết quả cho thấy, việc nhận hàng và giao hàng bằng phương pháp truyền thống có thể tạo ra lượng khí thải nhiều hơn khoảng 26-28 lần so với giao hàng bằng máy bay không người lái, tùy kịch bản xảy ra.
Một số mảng đặc thù như giải pháp tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn cũng cho câu chuyện tương tự. Theo ông Quý, trước kia, việc tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn cũng phải dùng đến trực thăng - một phương tiện tốn kém mà phát thải cao, trong khi drone mang đến giải pháp tiện lợi với chi phí rẻ hơn. Hay như trường hợp của một doanh nghiệp dầu khí được Aonic cung cấp giải pháp vận chuyển hàng hóa từ drone cũng cho thấy những ưu điểm vượt trội.
“Chúng tôi có ứng dụng vận tải hàng hóa cho doanh nghiệp dầu khí như Vietsopetro để vận chuyển hàng hóa từ giàn khoan trung tâm sang giàn vệ tinh. Trước kia, họ phải dùng tàu, thuyền - các phương tiện có chi phí cao và cũng gây phát thải lớn. Trường hợp này, dùng drone (chạy pin) đã làm tăng tính cơ động và giảm chi phí vận hành”.
Dĩ nhiên, drone cũng có những mặt hạn chế. Như câu chuyện về tiếng ồn, dù quả thực đứng đơn lẻ sẽ không ồn ào như trực thăng hay ô tô truyền thống, nhưng các trạm tập trung drone thì khác. Theo ghi nhận từ NBC News, các bãi đáp của Amazon gần khu dân cư tại Mỹ đã nhận về vô số lời phàn nàn về tiếng ồn từ drone với âm thanh vo ve “như một tổ ong khổng lồ”. Ông Quý cũng thừa nhận đây là một thử thách, nhưng may mắn là công nghệ hiện tại đã phát triển hơn để giải quyết câu chuyện này, với những chiếc drone trang bị công nghệ cánh giảm ồn.
Một vấn đề khác là hiệu năng thực sự của drone trong logistics, bởi 1 chiếc drone chỉ chở được 40-50kg hàng hóa, trong khi xe tải truyền thống lên tới hàng tấn. Tuy nhiên, ông Quý cho rằng, vấn đề này cần được đánh giá theo tính chất đối tượng, bởi hàng hóa có loại nhẹ, trung bình, hàng siêu trường - siêu trọng, và mỗi loại sẽ có giải pháp tương ứng.
“Hàng siêu trường, siêu trọng thì khó mà dùng drone. Nhưng với trọng lượng vừa phải (10-100kg) thì drone sẽ phù hợp. Ngoài ra, nếu quãng đường tới cả trăm hoặc cả ngàn kilomet thì không thể dùng drone. Nhưng bù lại, như trong lĩnh vực y tế, drone có thể là một giải pháp. Nếu cần vận chuyển vật thể y tế với tính chất gấp, nhanh thì dù xe cứu thương hay xe ưu tiên, tốc độ cũng rất khó đảm bảo. Drone khi đó là giải pháp giải quyết được kẹt xe, mật độ giao thông… Drone cũng có thể cất/hạ cánh ở tầng cao, tránh được các rủi ro như vận chuyển truyền thống”, trích lời ông Quý.

Theo ông Quý, trong khi ESG đã được đưa vào chiến lược của nhiều tập đoàn đa quốc gia hoặc các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực năng lượng, hạ tầng, bất động sản, nước và môi trường… thì việc ứng dụng drone trong câu chuyện này còn đang ở dạng thử nghiệm hoặc phục vụ mục tiêu truyền thông tại các dự án trọng điểm.
Đa phần, drone sẽ phục vụ trong mảng E (môi trường), với các ứng dụng để phục vụ kiểm tra, giám sát và báo cáo số liệu như giám sát rò rỉ, thất thoát nước; khảo sát rò rỉ, thất thoát nước; khảo sát phát thải bụi, khí, nhiệt; giám sát hệ sinh thái… Trong khi đó, các hạng mục S (xã hội) và G (quản trị) vẫn chưa có ứng dụng gì đáng kể.
Tuy nhiên, ông Quý cho rằng, ESG là một phạm trù rộng lớn, mà drone chỉ là một trong những giải pháp về kỹ thuật ứng dụng có thể tham gia vào chương trình này.
“Góc nhìn ESG từ drone thì chưa có số liệu cụ thể để nói về thị phần. Đây thực tế là cơ hội để thực hiện nhiều hơn, để tham gia và đánh giá đóng góp của drone trong giảm phát thải carbon; để từ đây có cơ sở, chiến lược từ Nhà nước, doanh nghiệp cho đến người tiêu dùng để có thể ứng dụng”, vị chuyên gia nhận xét.


Drone hiện tại đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi, nhưng còn tồn tại nhiều rào cản. Thách thức đầu tiên là chi phí, bởi để sử dụng drone hay các giải pháp khác đóng góp trong phát triển bền vững hay ESG thì chi phí là khúc mắc đầu tiên. Khi doanh nghiệp có thể chưa thấy lợi ích mà vẫn phải đầu tư, đây sẽ là rào cản lớn.
Thứ 2 là rào cản kỹ thuật. Ông Quý nhận xét, drone thực tế không phải thiết bị đơn giản. Nó bắt buộc người dùng phải có nền tảng kỹ thuật, kiến thức nhất định để tiếp nhận, sử dụng và khai thác hiệu quả.
Ngoài ra là khung pháp lý cho máy bay không người lái hiện nay. Việc nhập khẩu, sử dụng drone… có các khung pháp lý chặt chẽ, vô hình trung tạo thành rào cản khi sử dụng drone. Mọi thứ sẽ khó hơn, về thời gian, chi phí, công tác quản lý.
Theo Giám đốc Aonic Việt Nam, để thay đổi góc nhìn, các doanh nghiệp cần phải có quyết tâm nhất định để theo đuổi phát triển bền vững. Họ cần từng bước tháo gỡ, vượt qua rào cản. Như chi phí có thể theo giai đoạn đầu tư, chiến lược cụ thể nhằm tạo ra chi phí cần thiết phải có. Ngoài ra cần đội ngũ, kỹ thuật, con người, kế thừa và sử dụng công nghệ mới.
“Drone là xu thế cần thiết trong một số hoạt động, có thể đóng góp được giải pháp giảm thải lớn, giải quyết được các bài toán mà công nghệ truyền thống sẽ rất khó khăn hoặc không thể làm được”.

Nhận định về câu chuyện chính sách, ông Quý cho rằng, Chính phủ đã ban hành một số khung pháp lý chặt chẽ hơn, như các nghị định áp dụng từ 1/7/2025. Tuy nhiên, các khung pháp lý này không làm mọi chuyện khó khăn hơn, mà sẽ tăng được tính quản lý chặt chẽ, rõ ràng, giúp doanh nghiệp định hình được cách làm, biết bắt đầu từ đâu, nên làm gì và như thế nào.
“Các thủ tục pháp lý đang được số hóa, chuyển qua cổng dịch vụ công. Như hiện tại, việc xin phép cho máy bay drone có thể xin qua dịch vụ công trực tuyến, theo dõi được tiến độ, không như xưa cần phải đi khá nhiều ban bệ để thực hiện”.
Về mặt giải pháp đưa drone trở thành câu chuyện mở rộng, ông Quý cho rằng, cần kết hợp giữa các giải pháp vĩ mô (cấp Nhà nước) và vi mô (của doanh nghiệp, hiệp hội, địa phương). Về vi mô, khung pháp lý cần hỗ trợ tốt hơn và cụ thể hơn. Chẳng hạn như cấp phép bay cho các mục tiêu, các dự án kinh tế, kỹ thuật, hoặc xã hội, tổng hợp.
Những vấn đề liên quan đến dữ liệu cũng cần được bảo vệ cao vì drone liên quan đến việc chia sẻ dữ liệu. Ngoài ra, có thể cân nhắc câu chuyện tạo ra các gói tín dụng xanh cho hoạt động của drone.
“Có thể tạo ra gói ưu đãi lãi suất liên quan đến hoạt động drone. Như đầu tư drone trong nông nghiệp có thể cần gói tín dụng ưu đãi xanh. Hoặc dùng drone cho vận tải, khảo sát quy mô lớn cũng cần chính sách hỗ trợ về tài chính. Đây là các giải pháp thực hiện được để xóa bỏ các rào cản, hỗ trợ doanh nghiệp”.
Vĩ mô hơn, ông Quý nhận định, có thể hướng kết nối, thành lập các hiệp hội mang tính cộng đồng, không còn mang tính tự phát mà phải có chủ trương, tổ chức, để từ đó có các đơn vị khai thác tốt hơn hoạt động về ứng dụng drone cũng như đánh giá được tác động của drone vào phát thải như thế nào. Thông qua các hiệp hội này, sẽ xây dựng được dự án điển hình để chứng minh cụ thể từng nhóm ngành về khả năng thu hồi CO2, từ đó thuyết phục hơn đối với các chi phí đầu tư từ ban đầu.
Châu An
Thiết kế: Tuấn Trần