Tỷ lệ LDR và chuẩn mực Basel III: Cân bằng bài toán tăng trưởng tín dụng và an toàn hệ thống

05/10/2026 10:54

Tỷ lệ LDR và chuẩn mực Basel III: Cân bằng bài toán tăng trưởng tín dụng và an toàn hệ thống

Thông tư 50/2026/TT-NHNN đánh dấu bước hoàn thiện khuôn khổ an toàn ngân hàng, kết hợp mở rộng tính linh hoạt trong sử dụng vốn với nâng cao yêu cầu quản trị thanh khoản. Giá trị chiến lược của chính sách là tạo điều kiện để tín dụng hỗ trợ tăng trưởng trên nền tảng nguồn vốn vững chắc, đồng thời củng cố sức chống chịu của hệ thống.

* Ngân hàng Nhà nước nới trần LDR lên 95% và chốt lộ trình chuẩn Basel III

Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chính thức ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, quy định về các giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại cùng chi nhánh ngân hàng nước ngoài và có hiệu lực thi hành kể từ 01/12/2026.

Theo nội dung Thông tư, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi tối đa (LDR) được điều chỉnh nâng lên mức 95%. Việc nới lỏng giới hạn này được kỳ vọng giải tỏa bớt áp lực huy động vốn cho hệ thống các tổ chức tín dụng, đồng thời mở thêm dư địa để mở rộng hoạt động cấp tín dụng và hỗ trợ bảo vệ biên lãi thuần (NIM).

Một trong những điểm cốt lõi của Thông tư mới là chính thức tích hợp chuẩn mực quản lý thanh khoản Basel III thông qua việc áp dụng bắt buộc 2 chỉ tiêu lớn gồm tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR).

Đối với tỷ lệ khả năng chi trả (LCR), lộ trình áp dụng riêng lẻ quy đồng Việt Nam sẽ khởi động từ 01/10/2028 với ngưỡng tối thiểu ban đầu là 50% ở năm thứ nhất, sau đó tăng dần 10% mỗi năm để đạt mức hoàn toàn 100% kể từ ngày 01/10/2033.

Nới LDR - Giảm sức ép huy động, hỗ trợ NIM có điều kiện

Theo ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi, việc nâng giới hạn LDR lên 95% có thể giúp ngân hàng sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn. Cần lưu ý, mức mới gắn với thời điểm từng ngân hàng chuyển sang áp dụng LCR và NSFR, thay vì đồng loạt ngay khi Thông tư có hiệu lực ngày 01/12/2026.

Đối với ngân hàng đang tiến sát giới hạn LDR, thay đổi này có thể giảm nhu cầu huy động bằng mọi giá để đáp ứng tỷ lệ, qua đó hỗ trợ chi phí vốn và biên lãi thuần (NIM). Mức hưởng lợi phụ thuộc nền tiền gửi, cấu trúc tài sản và cách tính LDR mới. Vì vậy, không nên quy đổi chênh lệch giữa hai mức trần thành mức tăng tương ứng của năng lực cho vay.

Nới tỷ lệ không tự tạo thêm thanh khoản cho hệ thống. Khi giải ngân tăng nhanh, ngân hàng vẫn phải bổ sung nguồn vốn phù hợp. NIM còn chịu ảnh hưởng của lãi suất cho vay, cơ cấu tài sản sinh lãi và chi phí duy trì thanh khoản. Dư địa mới nên được chuyển hóa thành hiệu quả thực chất: hỗ trợ khách hàng có phương án khả thi, cải thiện chất lượng dịch vụ và giữ kỷ luật định giá rủi ro.

Dư địa tín dụng lớn hơn cần đi cùng bộ đệm thanh khoản

Rủi ro thanh khoản cục bộ có thể xuất hiện khi tốc độ giải ngân vượt khả năng tạo nguồn vốn ổn định. Đáng lưu ý là sự kết hợp giữa tiền gửi tập trung ở một số khách hàng lớn, tài sản có kỳ hạn dài và phụ thuộc nguồn tài trợ ngắn hạn.

avatar
 

Ông NGUYỄN QUANG HUY

CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng/ Trường đại học Nguyễn Trãi

"Một ngân hàng đáp ứng LDR vẫn có thể gặp sức ép chi trả nếu khách hàng rút tiền nhanh, dòng tiền thu nợ chậm hoặc thị trường liên ngân hàng biến động. Thanh khoản cần được đánh giá theo kỳ hạn, đồng tiền, hành vi người gửi tiền và nghĩa vụ ngoại bảng."

 

Một ngân hàng đáp ứng LDR vẫn có thể gặp sức ép chi trả nếu khách hàng rút tiền nhanh, dòng tiền thu nợ chậm hoặc thị trường liên ngân hàng biến động. Thanh khoản cần được đánh giá theo kỳ hạn, đồng tiền, hành vi người gửi tiền và nghĩa vụ ngoại bảng.

Giải pháp khả thi là duy trì khoảng đệm nội bộ so với giới hạn pháp lý, kiểm tra sức chịu đựng và chuẩn bị phương án tài trợ dự phòng. Kế hoạch tín dụng phải gắn với kế hoạch nguồn vốn; cơ chế điều hành cần cho phép điều chỉnh giải ngân khi cảnh báo xuất hiện. Chỉ tiêu kinh doanh cũng nên phản ánh chất lượng tăng trưởng, thay vì tập trung vào quy mô dư nợ.

Lộ trình LCR, NSFR: Thời gian chuẩn bị hợp lý, thách thức chuyển đổi sâu

Theo lộ trình chung, LCR và NSFR bắt đầu áp dụng từ ngày 1/10/2028; LCR đạt 100% từ ngày 1/10/2033, NSFR đạt 100% từ ngày 1/10/2030.

LCR bằng giá trị tài sản thanh khoản cao đủ điều kiện chia cho dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo, nhân 100%. NSFR bằng nguồn vốn ổn định sẵn có chia cho nguồn vốn ổn định yêu cầu, nhân 100%; các cấu phần được tính theo hệ số quy định.

Hai chỉ tiêu bổ sung cho nhau: LCR đo sức chống chịu trước căng thẳng ngắn hạn; NSFR đánh giá sự phù hợp giữa nguồn vốn ổn định và nhu cầu tài trợ tài sản trong khung thời gian một năm.

Lộ trình thể hiện sự cân nhắc giữa chuẩn mực quốc tế và điều kiện thực tế, giúp hạn chế cú sốc điều chỉnh bảng cân đối. Tuy nhiên, đây vẫn là thách thức lớn về dữ liệu, mô hình hành vi tiền gửi, định giá vốn nội bộ và năng lực quản trị tài sản – nguồn vốn.

Việc NSFR hoàn tất sớm hơn đặt yêu cầu chủ động củng cố cấu trúc nguồn vốn. Ngân hàng nên chạy thử sớm, xây dựng mục tiêu từng năm và tính chi phí thanh khoản vào quyết định kinh doanh. Thời gian chuyển tiếp cần được sử dụng để nâng năng lực thực chất.

Động lực nâng chuẩn sớm và cạnh tranh về quản trị

Ngân hàng áp dụng ngưỡng tối thiểu 100% cho cả LCR và NSFR được miễn tuân thủ LDR, nhưng vẫn phải báo cáo chỉ tiêu này.

Cơ chế này tạo động lực đáng kể, nhất là với ngân hàng có nền tiền gửi ổn định, nguồn vốn đa dạng và hệ thống quản trị hoàn thiện. Lợi ích còn nằm ở sự chủ động phân bổ tài sản, uy tín với đối tác và khả năng tiếp cận nguồn tài trợ.

Tuy nhiên, mức hấp dẫn phải được cân đối với chi phí công nghệ, dữ liệu và duy trì tài sản thanh khoản. Mỗi ngân hàng cần lựa chọn tiến độ phù hợp, bảo đảm khả năng duy trì chuẩn mực qua các chu kỳ.

Đáp ứng LCR, NSFR không đồng nghĩa hoàn thành toàn bộ Basel III hoặc được mở rộng tín dụng không giới hạn. Sự linh hoạt cần đi cùng an toàn vốn, chất lượng tín dụng và kiểm soát rủi ro tập trung.

Ngưỡng 10% HQLA - Nhận diện sớm mức độ phụ thuộc nguồn hỗ trợ

Ngưỡng giám sát tăng cường áp dụng khi ngân hàng vi phạm LCR và sử dụng biện pháp tự xử lý từ 10% giá trị tài sản thanh khoản cao đủ điều kiện trở lên.

Thông điệp quản lý là nhận diện kịp thời mức độ phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ bên ngoài khi bộ đệm thanh khoản suy giảm. Giám sát tăng cường thúc đẩy khắc phục sớm, bảo vệ người gửi tiền và hạn chế nguy cơ lan truyền.

Ngân hàng nên thiết lập cảnh báo nội bộ trước ngưỡng này, chuẩn bị tài sản có thể huy động tiền và phân định rõ trách nhiệm xử lý. Phương án dự phòng phải được kiểm tra định kỳ để bảo đảm khả năng triển khai.

Kiểm soát đòn bẩy, củng cố chiều sâu thị trường vốn

Các giới hạn cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu góp phần giảm vòng khuếch đại giữa tín dụng và giá tài sản. Trong ngắn hạn, một số phân khúc có thể cần điều chỉnh nguồn tài trợ; về dài hạn, dòng vốn có điều kiện được phân bổ thận trọng hơn.

Hiệu quả chính sách cần được hỗ trợ bằng phát triển nhà đầu tư tổ chức, nâng chất lượng xếp hạng tín nhiệm và minh bạch thông tin. Doanh nghiệp phát hành phải củng cố dòng tiền, quản trị, công tác quan hệ nhà đầu tư và bảo vệ quyền lợi cổ đông.

Ngân hàng vững mạnh cùng thị trường vốn có chiều sâu sẽ giúp nền kinh tế tiếp cận nguồn tài trợ phù hợp hơn, nâng hiệu quả phân bổ vốn và sức chống chịu trước biến động.

Cát Lam

FILI