TPHCM cần gần 294 ngàn tỷ đồng để gỡ 28 điểm kẹt xe
TPHCM cần gần 294 ngàn tỷ đồng để gỡ 28 điểm kẹt xe
TPHCM dự kiến cân đối được gần hai phần ba nhu cầu vốn cho 98 dự án xử lý các điểm có nguy cơ ùn tắc giai đoạn 2026-2030. Khoảng 101 ngàn tỷ đồng còn lại cần được thu xếp thêm.
Trong báo cáo phục vụ họp báo ngày 22/10, Sở Xây dựng TPHCM cho biết 98 dự án giải quyết các điểm nghẽn giao thông có tổng mức đầu tư khoảng 360.8 ngàn tỷ đồng. Riêng giai đoạn 2026-2030, nhu cầu vốn là 293.5 ngàn tỷ đồng.
Nguồn dự kiến cân đối trong giai đoạn này đạt 192.5 ngàn tỷ đồng, gồm 120.9 ngàn tỷ đồng từ ngân sách Thành phố và 71.6 ngàn tỷ đồng huy động qua hợp tác công tư (PPP), với các hình thức hợp đồng như BOT, BT.
Chi phí bồi thường, hỗ trợ tái định cư và giải phóng mặt bằng chiếm gần 151 ngàn tỷ đồng, hơn một nửa nhu cầu vốn trong 5 năm.
Lộ trình xử lý 28 điểm có nguy cơ ùn tắc được chia thành hai chặng: 15 điểm trong hai năm 2026-2027, số còn lại vào giai đoạn 2028-2030.
Mục tiêu năm nay là giải quyết 6 vị trí, gồm nút giao An Phú, ngã tư Tây Hòa và các giao lộ Nguyễn Thái Sơn - Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Oanh - Phan Văn Trị, Cộng Hòa - Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Văn Linh - Quốc lộ 50.
Chín điểm dự kiến xử lý năm 2027 gồm nút giao Mỹ Thủy ở cửa ngõ cảng Cát Lái; khu vực Tôn Đức Thắng - Nguyễn Hữu Cảnh - Nguyễn Bỉnh Khiêm tại trung tâm; giao lộ Phạm Văn Đồng - Phan Văn Trị; hai điểm ở Bình Dương cũ và bốn vị trí dọc Quốc lộ 51 thuộc khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ.
TPHCM đặt mục tiêu xử lý 28 điểm có nguy cơ ùn tắc giao thông đến năm 2030
|
Vốn chưa phải trở ngại duy nhất
Theo Sở Xây dựng, 33 trong số 98 dự án đã có vốn và đủ điều kiện triển khai. Các công trình đang thi công gồm nút giao An Phú, Mỹ Thủy, cầu đường Nguyễn Khoái, mở rộng Quốc lộ 50 và đoạn Vành đai 2 từ Phạm Văn Đồng đến nút giao Gò Dưa. Một số dự án thành phần của cao tốc TPHCM - Mộc Bài cũng đang được thực hiện, cùng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tuyến TPHCM - Thủ Dầu Một - Chơn Thành.
Nhóm chuẩn bị khởi công có cầu Thủ Thiêm 4, Cần Giờ, Phú Mỹ 2, đường liên cảng Cát Lái - Phú Hữu, nút giao Gò Công, nâng cấp trục Bắc - Nam và đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành. Danh mục còn gồm các tuyến metro số 1, số 2 trên địa bàn Bình Dương cũ và giai đoạn đầu tuyến số 6, đoạn Tân Sơn Nhất - Phú Hữu.
Dù vậy, tiến độ còn vướng ở khâu điều hành. Sở cho biết một số chủ đầu tư chậm nhận diện, xử lý khó khăn, chưa lập kế hoạch chi tiết để đẩy nhanh công việc. Năng lực quản lý đồng thời nhiều công trình lớn còn hạn chế; hồ sơ tư vấn có nơi phải chỉnh sửa nhiều lần.
Cát, đá có thời điểm thiếu hụt khi hàng loạt dự án cùng thi công. Việc di dời hạ tầng kỹ thuật cũng chậm, trong khi một số công trình phải chờ điều chỉnh quy hoạch phân khu để hoàn tất thủ tục đầu tư.
Để siết tiến độ, Sở đề xuất lập kế hoạch thi công chi tiết, giám sát hằng tuần, hằng tháng và đánh giá giải ngân bằng chỉ tiêu KPI, kèm cơ chế cảnh báo “thẻ vàng”, “thẻ đỏ”. Vốn có thể được điều chuyển; nhà thầu, đơn vị tư vấn yếu kém hoặc trễ hạn bị thay thế.
Các công trình cấp bách được yêu cầu thi công liên tục, kể cả “xuyên lễ, xuyên Tết”. Khâu bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có thể tách thành dự án riêng khi cần thiết, đồng thời chuẩn bị sẵn quỹ đất, khu tái định cư và công khai tiến độ giải phóng mặt bằng.
Thay đổi tư duy khi đầu tư hạ tầng
Sau hợp nhất, TPHCM có khoảng 14 triệu dân. Tính đến tháng 6/2026, số phương tiện đang được quản lý lên gần 12.8 triệu chiếc, chủ yếu là xe máy với hơn 11.5 triệu chiếc, còn ô tô khoảng 1.2 triệu.
Mạng lưới đường sá chưa theo kịp nhu cầu đi lại. Vành đai 2 còn gần 14km chưa khép kín; Vành đai 3, Vành đai 4 và các tuyến cao tốc liên vùng đang thi công hoặc chuẩn bị đầu tư.
Metro mới có tuyến số 1 dài gần 20km vận hành thương mại. Xe buýt gom khách và phương tiện kết nối giữa các trung tâm đô thị chưa phủ kín, tỷ lệ sử dụng giao thông công cộng chỉ khoảng 7%.
Mục tiêu Sở Xây dựng đặt ra là chuyển từ tư duy “đầu tư từng công trình giao thông” sang “đầu tư một hệ thống giao thông tích hợp”.
Cơ quan này dẫn ví dụ, một cảng biển hiện đại nhưng đường kết nối bị ùn tắc cũng không tạo được năng lực logistics tương ứng. Mỗi dự án lớn vì thế cần được tính cùng các công trình kết nối đầu - cuối và những phương thức vận tải liên quan.
Trong mạng lưới đó, đường bộ kết nối các khu vực; metro chở lượng lớn hành khách; đường thủy phát huy thế mạnh vận chuyển hàng hóa; hàng không phục vụ đi lại quốc tế và liên vùng. Xe buýt cùng các phương tiện công cộng khác giúp người dân tiếp cận toàn bộ hệ thống.
Theo Sở, số km đường hay số tuyến metro xây dựng chỉ là một phần thước đo hiệu quả đầu tư. Điều quan trọng hơn là người dân chuyển đổi thuận tiện giữa các phương tiện, hàng hóa đi từ cảng đến nhà máy, kho bãi và thị trường với thời gian, chi phí, số lần trung chuyển hợp lý.
Trước mắt, ưu tiên là khép kín các tuyến vành đai, hoàn thiện cửa ngõ và những trục kết nối sân bay, cảng biển, khu công nghiệp, trung tâm logistics. Đường sắt đô thị được xác định là xương sống của hệ thống vận tải hành khách công cộng.
Gắn với mạng lưới này, Thành phố dự kiến phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) quanh 11 tuyến đường sắt đô thị dài gần 500km và tuyến Vành đai 3. Quỹ đất quanh nhà ga, nút giao có thể được khai thác, đấu giá để tạo nguồn tái đầu tư hạ tầng. Luật Phát triển đô thị có hiệu lực từ ngày 01/10/2026 tạo thêm quyền chủ động cho TPHCM trong đầu tư, huy động vốn và phát triển các khu vực TOD, đồng thời giúp rút ngắn thủ tục đối với những dự án lớn, quan trọng.
Trong lúc chờ hoàn thiện hạ tầng, việc tổ chức lại giao thông được triển khai trên mạng lưới hiện hữu. Báo cáo ngày 15/10 của Sở Xây dựng đề cập các giải pháp điều chỉnh làn đường linh hoạt theo giờ, tổ chức lại điểm giao cắt, tối ưu đèn tín hiệu và nghiên cứu kết nối toàn bộ hệ thống đèn bên trong Vành đai 2 về trung tâm điều khiển tập trung.
Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và mô hình số song sinh (Digital Twin) cũng nằm trong hướng nghiên cứu ứng dụng để quản lý hạ tầng, theo dõi giao thông và hỗ trợ điều hành. Công nghệ được đề xuất sử dụng cả trong giám sát chất lượng, tiến độ thi công.
Tính trên toàn bộ lĩnh vực hạ tầng giao thông, Sở Xây dựng ước nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 khoảng 1.12 triệu tỷ đồng, rộng hơn danh mục 98 dự án xử lý các điểm ùn tắc. Khả năng cân đối ngân sách khoảng 616 ngàn tỷ đồng, đáp ứng 55%.
Tử Kính