Nhân dân tệ mạnh nhất 4 năm vẫn chưa đủ đắt để hãm cỗ máy xuất khẩu

20 giờ trước

Nhân dân tệ mạnh nhất 4 năm vẫn chưa đủ đắt để hãm cỗ máy xuất khẩu

Đồng nhân dân tệ lên cao nhất 4 năm so với USD, nhưng thặng dư thương mại của Trung Quốc vẫn trên đường phá kỷ lục 1,200 tỷ USD của năm 2025. Nguyên nhân nằm ở chỗ tỷ giá danh nghĩa tăng chưa xóa được lợi thế giá mà giảm phát trong nước đã tích lũy suốt 4 năm qua. Khi thỏa thuận đình chiến thương mại Mỹ - Trung tiến gần hạn chót vào tháng 1/2027, sức ép buộc Bắc Kinh để đồng tiền tăng giá nhanh hơn sẽ còn lớn dần.

Ngày 19/10, Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) công bố GDP quý 3/2026 tăng 4.5% so với cùng kỳ, cao hơn mức 4.4% theo khảo sát của Reuters và cải thiện so với mức 4.3% của quý 2, thấp nhất hơn ba năm. Lũy kế 9 tháng, kinh tế Trung Quốc tăng 4.6%, đủ để hoàn thành mục tiêu cả năm trong khoảng 4.5%-5%. Động lực chính đến từ nhu cầu nước ngoài đối với hàng công nghệ, đủ bù đắp cho thị trường bất động sản suy thoái sâu hơn và tiêu dùng trì trệ.

Một tuần trước đó, ngày 12/10, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đặt tỷ giá trung tâm ở mức 6.7313 CNY/USD, mạnh nhất kể từ ngày 02/02/2023, trong khi nhân dân tệ trên thị trường nước ngoài giao dịch quanh 6.69 CNY/USD, mạnh nhất kể từ tháng 7/2022. Trong 12 tháng qua, USD đã giảm 6.26% so với nhân dân tệ. Đồng nội tệ Trung Quốc đã tăng giá đều đặn suốt 18 tháng.

Mức cao nhất 4 năm so với USD đồng nghĩa hàng Trung Quốc lẽ ra phải đắt hơn trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, tỷ giá thực đa phương (REER) của nhân dân tệ hiện chỉ nằm đúng mức trung bình 20 năm và vẫn yếu hơn khoảng 15% so với 4 năm trước.

Tăng giá trên danh nghĩa, rẻ đi trong thực tế

Để hiểu vì sao đồng tiền mạnh nhất 4 năm vẫn là đồng tiền "rẻ", cần nhìn vào cách tính REER. Chỉ số này đo giá trị nhân dân tệ so với một rổ tiền tệ của các đối tác thương mại, sau khi điều chỉnh theo chênh lệch lạm phát. Nói cách khác, REER bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương nhân với tỷ lệ giữa mặt bằng giá trong nước và mặt bằng giá của đối tác.

Cơ chế này vận hành theo nguyên tắc: nếu giá hàng hóa tại Trung Quốc đứng yên trong khi giá tại Mỹ, châu Âu tăng đều mỗi năm, hàng Trung Quốc tự động rẻ đi tương đối dù tỷ giá không đổi. Giai đoạn 2024-2025, tỷ giá danh nghĩa đa phương của nhân dân tệ vẫn cao hơn mức trước đại dịch, nhưng lạm phát thấp trong nước kết hợp lạm phát cao ở nước ngoài đã kéo REER đi xuống. Lợi thế giá vì thế được tích lũy âm thầm, không cần đến một đợt phá giá nào.

Quy mô của quá trình này rất lớn. Từ tháng 4/2022 đến tháng 6/2025, REER của nhân dân tệ giảm 19%, mức điều chỉnh mạnh nhất kể từ năm 1990, giúp doanh nghiệp Trung Quốc có lợi thế chi phí rõ rệt trước đối thủ nước ngoài. Mức giảm 19% này lớn hơn bất kỳ đợt mất giá danh nghĩa nào mà Bắc Kinh từng chủ động điều hành.

Mức giảm 19% cũng là lý do đợt phục hồi hiện tại chưa đủ. REER đã tăng 7% kể từ tháng 5/2025, và dữ liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho thấy tính đến tháng 6/2026, nhân dân tệ tăng giá thực 6.0% so với cùng kỳ, trong khi đồng yen mất giá thực tới 11.7%. Tuy nhiên, phần tăng này mới chỉ lấy lại khoảng một phần ba quãng đường đã mất.

Tổ chức quốc tế đã định lượng khoảng cách còn lại. Trong báo cáo tham vấn Điều IV công bố cuối tháng 2/2026, IMF ước tính REER của nhân dân tệ bị định giá thấp 12-21% trong năm 2025, đồng thời xem sự suy yếu của REER là một yếu tố tạo ra mất cân bằng đối ngoại ngày càng lớn của Trung Quốc. Nếu áp ước tính này lên mức hiện tại, nhân dân tệ vẫn còn dư địa tăng giá thực đáng kể.

Sự chênh lệch giữa tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực không phải diễn biến ngẫu nhiên. Hiện tượng này là kết quả trực tiếp từ giảm phát kéo dài trong nền kinh tế Trung Quốc kết hợp cùng cơ chế quản lý tỷ giá chặt chẽ. Hai lực này cùng nhau biến nhân dân tệ thành lợi thế cạnh tranh, ngay cả khi đồng tiền đang lên giá trên bảng điện tử.

Giảm phát nội địa và cơn sốt AI thổi phồng thặng dư

Nguyên nhân gốc của giảm phát nằm ở nhu cầu nội địa. Theo NBS, đầu tư tài sản cố định giảm 7.2% trong 9 tháng, doanh số bán lẻ hàng tiêu dùng chỉ tăng 1.1% trong khi giá tiêu dùng tăng 0.9%, để lại mức tăng chi tiêu thực cho hàng hóa chỉ khoảng 0.2 điểm phần trăm. Ngay trong thông cáo của mình, NBS thừa nhận tình trạng cầu nội địa thiếu hụt vẫn nổi bật.

Khi cầu trong nước không hấp thụ được sản lượng, hàng hóa tìm đường ra nước ngoài. Dữ liệu Tổng cục Hải quan công bố ngày 14/10 cho thấy xuất khẩu tháng 9 tăng 36.3% so với cùng kỳ, vượt xa mức dự báo 25.7%, trong khi nhập khẩu tăng 31%, tạo ra thặng dư 133.5 tỷ USD trong một tháng. Lũy kế 9 tháng, thặng dư đạt 938.1 tỷ USD, so với mức kỷ lục 1,200 tỷ USD của cả năm 2025.

Cơ cấu xuất khẩu cũng đã thay đổi. Theo TrendForce, các thiết bị công nghệ cao liên quan đến AI như vi mạch tích hợp và máy chủ, cùng sản phẩm ô tô, đều tăng trưởng hai chữ số và trở thành hai trụ cột chính nâng thặng dư thương mại. Khác với hàng tiêu dùng giá rẻ, nhóm hàng này ít nhạy cảm với tỷ giá vì người mua cần nguồn cung hơn là giá thấp.

Thị trường đích cũng phân bổ rộng. Hàng xuất sang Mỹ tăng 39.6% trên nền thấp của năm ngoái, khi hai bên áp thuế quan cao lên hàng hóa của nhau, trong khi xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) tăng 25.3% và nhập khẩu từ khối này gần như đi ngang. Ngược lại, đồng euro đã mất hơn 10% so với nhân dân tệ kể từ đỉnh tháng 1, nhưng mức tăng giá này chưa làm chậm dòng hàng vào châu Âu.

Hệ quả cộng gộp hiện rõ trên cán cân vãng lai. Báo cáo Khu vực Đối ngoại của IMF cho thấy thặng dư vãng lai của Trung Quốc tăng khoảng 300 tỷ USD trong năm 2025, mức mở rộng lớn nhất tính theo giá trị tuyệt đối kể từ ít nhất năm 2000, lên khoảng 0.6% GDP thế giới. IMF chỉ ra rằng sự suy yếu của đầu tư, trước là bất động sản, sau là sản xuất và hạ tầng, là động lực chính khiến thặng dư mở rộng kể từ năm 2023.

Như vậy, cùng một nguyên nhân là cầu nội địa yếu đang tạo ra hai hệ quả song song: giá cả trong nước đứng yên kéo REER xuống, và sản lượng dư thừa đẩy xuất khẩu lên. Đồng tiền tăng giá danh nghĩa chỉ tác động vào triệu chứng, không chạm tới cơ chế gốc. Hệ quả của làn sóng xuất khẩu này đang lan trực tiếp tới quan hệ thương mại với các đối tác lớn.

Khối thặng dư nghìn tỷ USD buộc Bắc Kinh chọn tốc độ tăng giá

Áp lực từ bên ngoài đã chuyển thành hành động cụ thể. Giới chức EU gọi mức thâm hụt thương mại của khối với Trung Quốc, vượt 1 tỷ EUR mỗi ngày, là không bền vững, và các vòng đàm phán gần nhất mới chỉ đạt thỏa thuận ban đầu hạn chế xuất khẩu xe hybrid, nhóm hàng mà giới phân tích cho rằng chiếm tỷ trọng nhỏ. Tại Mỹ, giới đầu tư đang theo dõi kết quả đàm phán thương mại khi thỏa thuận đình chiến hiện hành tiến gần thời điểm hết hạn vào tháng 1.

Quy mô mất cân bằng đang tiến tới mốc chưa từng có. Các chuyên gia kinh tế của Goldman Sachs dự báo thặng dư của Trung Quốc có thể đạt gần 1% GDP toàn cầu chỉ trong vòng ba năm, lớn nhất của bất kỳ quốc gia nào trong lịch sử được ghi nhận. IMF cảnh báo nếu xu hướng hiện tại tiếp diễn và các nền kinh tế lớn không điều chỉnh, mất cân bằng toàn cầu có thể còn mở rộng.

Bắc Kinh đang đáp lại bằng một lộ trình tăng giá có kiểm soát. PBoC ấn định tỷ giá tham chiếu hàng ngày, quanh đó nhân dân tệ được dao động trong biên độ ±2% mỗi phiên, trong khi dòng vốn vẫn bị quản lý chặt. Việc liên tục đặt tỷ giá trung tâm ở mức mạnh cho thấy nhà điều hành chấp nhận đồng tiền lên giá.

Tuy nhiên, giới hạn của lộ trình này đã được thị trường nhận diện. Continuum Economics dự báo tỷ giá USD/CNY về 6.65 vào cuối năm 2026 và 6.50 vào cuối năm 2027, đồng thời lưu ý nhà chức trách từng cho phép nhân dân tệ tăng giá trong các năm 2014, 2018 và 2022 nhưng trở nên nhạy cảm khi tỷ giá xuống dưới 6.25. Mức 6.50 vào cuối năm 2027 chỉ tương đương mức tăng thêm khoảng 3% so với hiện tại.

Ba điểm phần trăm là con số quá nhỏ so với khoảng định giá thấp 12-21% mà IMF ước tính. Đây là lý do mức REER cao nhất 4 năm vẫn chưa thay đổi được bức tranh thương mại.

Cùng lúc, động lực tăng trưởng đang mỏng dần. IMF mới đây hạ nhẹ dự báo, cho rằng kinh tế Trung Quốc tăng 4.5% trong năm nay và chậm lại còn 4% trong năm 2027. Raymond Yeung, Kinh tế trưởng phụ trách Trung Quốc tại ANZ, đánh giá rủi ro nghiêng về phía giảm khi cầu nội địa yếu, áp lực giảm phát dai dẳng và bất động sản tiếp tục đi xuống. Trong bối cảnh đó, để đồng tiền tăng giá mạnh đồng nghĩa tự cắt vào động lực tăng trưởng duy nhất đang vận hành tốt.

Mức tăng 4.5% của quý 3 cho thấy Trung Quốc đang bước vào giai đoạn mà tăng trưởng và cân bằng đối ngoại kéo nhau theo hai hướng ngược nhau. Đây không phải kịch bản khủng hoảng tỷ giá, bởi Bắc Kinh vẫn kiểm soát chặt dòng vốn và thặng dư vãng lai lớn giữ cho đồng tiền vững. Tuy nhiên, chính sự vững vàng đó lại là gốc rễ của căng thẳng thương mại.

Diễn biến của nhân dân tệ để lại bài học lớn về cách đọc tỷ giá: sức cạnh tranh của một đồng tiền không nằm ở con số trên bảng điện tử so với USD, mà ở tương quan giá cả giữa nền kinh tế đó và phần còn lại của thế giới. Một đồng tiền có thể vừa lên đỉnh nhiều năm, vừa rẻ hơn mức bình quân lịch sử.

Đối với các đối tác thương mại và giới đầu tư toàn cầu, quá trình tái cân bằng giữa tỷ giá danh nghĩa, giá cả nội địa và thặng dư của Trung Quốc sẽ còn kéo dài trong vài năm tới. Chừng nào cầu trong nước chưa phục hồi, nhân dân tệ mạnh lên bao nhiêu cũng chưa đủ.

Chu Tuấn Phong

FILI