Luật chơi xanh của EU và “tấm hộ chiếu” cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam

4 giờ trước

Luật chơi xanh của EU và “tấm hộ chiếu” cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam

Tiêu chuẩn môi trường khắt khe không còn là rào cản mà đã trở thành điều kiện cạnh tranh sống còn trên thương trường quốc tế. Chuyển đổi xanh đi kèm minh bạch dữ liệu chính là chìa khóa để hàng hóa Việt Nam vươn xa và bám trụ tại các thị trường khó tính.

Từ tiêu chuẩn môi trường đến điều kiện cạnh tranh

Tại hội thảo Hàng Việt chinh phục thế giới Thích ứng luật mới, bứt phá doanh thu, ông Nguyễn Hữu Nam, Phó Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chia sẻ về chủ đề Luật chơi xanh của EU và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp Việt.

Ông Nguyễn Hữu Nam, Phó Giám đốc VCCI. - Ảnh: Thanh Trúc

Ông Nam cho biết, thỏa thuận xanh của liên minh châu Âu chính thức ban hành vào tháng 12/2019, tập trung vào 7 lĩnh vực cốt lõi gồm khí hậu, môi trường và đại dương, công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng, vận tải và tài chính. Mục tiêu lớn nhất của EU là trở thành khu vực trung hòa carbon về 0 vào năm 2050.

Khách hàng tại các quốc gia phát triển ngày càng quan tâm đến nguồn gốc nguyên liệu và lượng phát thải của từng sản phẩm. Các hãng lớn hiện nay cũng đặt ra nhiều điều kiện khắt khe về sử dụng năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường trước khi chốt đơn hàng với nhà cung cấp.

Ông nhấn mạnh thế giới đã thay đổi khi tiêu chuẩn môi trường trở thành điều kiện cạnh tranh. Chuyển đổi xanh hiện nay luôn song hành cùng chuyển đổi số. Dữ liệu minh bạch được xem như một tấm hộ chiếu mới cho hàng hóa xuất khẩu.

"Doanh nghiệp không chỉ cần sản xuất xanh hơn mà còn phải chứng minh được là xanh như thế nào. Đây là yêu cầu bắt buộc khi hàng hóa muốn thâm nhập thị trường châu Âu” - ông Nam nói.

Ba rào cản pháp lý trọng yếu

Khía cạnh tác động trực tiếp đầu tiên là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Quy định này hiện áp dụng đối với 6 mặt hàng gồm sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro. Văn phòng chống gian lận châu Âu (OLAF) kiểm tra rất gắt gao việc tuân thủ cơ chế này.

Ông Nam cho biết quá trình kiểm tra thường bắt đầu bằng các câu hỏi ngẫu nhiên về quy trình sản xuất, sau đó mới đi sâu vào từng lô hàng và yêu cầu giấy tờ đối chứng. Nếu thiếu hệ thống dữ liệu số để chứng minh chính xác lượng phát thải hàm chứa thay vì thu thập thủ công bằng giấy tờ, doanh nghiệp sẽ đối mặt với rủi ro bị từ chối đơn hàng.

Tiếp đến là quy định chống phá rừng (EUDR) bắt đầu có những điều chỉnh áp dụng từ tháng 7/2026. Cơ chế này kiểm soát 7 nhóm hàng gồm cà phê, cao su, gỗ, cacao, đậu nành, dầu cọ và gia súc. Châu Âu đã loại bỏ ghế dùng cho máy bay hay phương tiện vận tải ra khỏi danh sách nhưng lại bổ sung thêm lưỡi gia súc, cà phê hòa tan và các tinh chất cà phê vào diện kiểm soát.

Để thâm nhập thị trường, đơn vị sản xuất phải chứng minh tọa độ vùng trồng không nằm trên diện tích rừng bị phá sau ngày 31/12/2020. Dù sản phẩm có chất lượng tốt hay giá rẻ đến đâu, việc đứt gãy chuỗi dữ liệu truy xuất nguồn gốc từ các nông hộ nhỏ lẻ cũng sẽ khiến hàng hóa vi phạm quy định.

Một quy định khác có mức độ bao phủ rộng là yêu cầu về bao bì và chất thải bao bì. Châu Âu bắt buộc bao bì thiết kế phải có khả năng tái chế và tái sử dụng nhằm giảm thiểu vật liệu. Từ ngày 12/08/2026, việc sử dụng các hóa chất vĩnh viễn trên bao bì sẽ bị nghiêm cấm hoàn toàn nhằm tránh tồn dư trong đất và nước. Quy định này có sức ảnh hưởng rất lớn vì tác động đến hầu hết các sản phẩm tiêu dùng, dệt may và giày dép.

Chủ động quản trị rủi ro để giữ đơn hàng

Trước những sức ép trên, các doanh nghiệp chậm thích ứng sẽ tăng rủi ro bị đội chi phí kiểm tra, mất cơ hội đơn hàng và nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng. Ngược lại, việc sở hữu hệ thống dữ liệu đáp ứng tiêu chuẩn sẽ giúp tăng độ tin cậy và giữ chân khách hàng. Theo ông Nam, các đơn vị đang áp dụng bộ tiêu chuẩn như ISO 14001, ISO 14064 hay ISO 50001 sẽ có cơ sở rất tốt để hoàn thành nghĩa vụ giải trình.

Đánh giá về tư duy tiếp cận hiện nay, ông Nam nhấn mạnh: "Đừng xem chuyển đổi xanh chỉ là chi phí, hãy chuyển từ phản ứng khi khách hàng yêu cầu sang chủ động quản trị rủi ro".

Nhằm giúp các đơn vị xuất khẩu từ bỏ cách làm thủ công và bắt nhịp với luật chơi mới, ông Nam đề xuất một lộ trình chuẩn bị kéo dài 12 tháng.

Trong 3 tháng đầu, các doanh nghiệp cần tập trung rà soát thị trường và xác định chính xác những khoảng trống tuân thủ đối với sản phẩm của mình. Giai đoạn từ 3 - 6 tháng tiếp theo được dành cho việc xây dựng dữ liệu nền, phân công trách nhiệm và chuẩn hóa hồ sơ nhà cung cấp.

Từ 6 - 9 tháng, doanh nghiệp bắt đầu triển khai các giải pháp ưu tiên về năng lượng, nguyên liệu và hệ thống truy xuất dữ liệu. 9 - 12 tháng cuối cùng dùng để đánh giá kết quả, hoàn thiện bằng chứng lưu trữ và làm việc trực tiếp với khách hàng.

"Muốn thành công thì chúng ta cần phải hiểu luật. Doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng năng lực tuân thủ và hệ thống dữ liệu vững chắc để giữ vững vị thế trên bản đồ thương mại toàn cầu", ông Nam chia sẻ.

Thanh Trúc

FILI