Kinh doanh vàng trong khuôn khổ pháp lý mới: Những hành vi nào có thể bị xử phạt?
Kinh doanh vàng trong khuôn khổ pháp lý mới: Những hành vi nào có thể bị xử phạt?
Ngày 26/08/2025 Chính phủ ban hành Nghị định 232/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng đã tạo ra khuôn khổ quản lý mới, có hiệu lực từ ngày 10/10/2025. Trên cơ sở đó, Nghị định 340/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 09/02/2026, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng đã thiết lập hệ thống chế tài tương ứng đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng.
Quy định mức xử phạt về hoạt động kinh doanh vàng như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, người vi phạm bị phạt cảnh cáo đối với hành vi mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp không có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng; hoặc sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán. Quy định này cho thấy pháp luật không chỉ đặt trách nhiệm lên chủ thể trực tiếp kinh doanh vàng mà còn kiểm soát hành vi của người tham gia giao dịch.
Đối với trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần, khoản 2 Điều 28 nâng mức xử lý lên phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp không có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng; sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán.
Khoản 3 Điều 28 quy định mức phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với một số vi phạm liên quan đến tính minh bạch của thị trường và thông tin sản phẩm. Trong đó có hành vi không niêm yết công khai giá mua, giá bán vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ; vi phạm trách nhiệm của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng miếng khi có thay đổi về mạng lưới chi nhánh, địa điểm kinh doanh mua, bán vàng miếng; sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ mà không công bố tiêu chuẩn áp dụng, không ghi nhãn hàng hóa; hoặc sản xuất vàng miếng mà không công bố tiêu chuẩn áp dụng, khối lượng, hàm lượng sản phẩm và không ghi nhãn hàng hóa theo quy định.
Đối với hành vi kinh doanh mua, bán vàng miếng không đúng quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 8 Điều 28, mức phạt được quy định từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Cùng mức phạt này là hành vi mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh không đúng quy định pháp luật, trừ những hành vi thuộc phạm vi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Khoản 5 Điều 28 quy định mức phạt từ 140 triệu đồng đến 180 triệu đồng được áp dụng đối với nhóm hành vi có tính chất nghiêm trọng hơn, bao gồm thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng thông qua các đại lý ủy nhiệm; không thực hiện đúng quy định về trạng thái vàng; xuất khẩu, nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng nguyên liệu dưới dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng và các loại vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm không đúng nội dung ngành nghề đã đăng ký; sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ nhưng không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định; hoặc gia công vàng trang sức, mỹ nghệ nhưng không có đăng ký gia công trong giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Tiếp đó, khoản 6 Điều 28 quy định mức phạt từ 200 triệu đồng đến 250 triệu đồng đối với hành vi sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu không đúng theo giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu hoặc thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng thông qua đại lý ủy nhiệm trong trường hợp tái phạm.
Hoạt động sản xuất vàng miếng không đúng quy định của pháp luật bị phạt từ 250 triệu đồng đến 300 triệu đồng theo khoản 7 Điều 28. Trong khi đó, mức phạt cao nhất từ 300 triệu đồng đến 400 triệu đồng được áp dụng đối với việc sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng nhưng không có giấy phép; thực hiện xuất khẩu hoặc nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép; hoặc thực hiện hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định pháp luật.
Không dừng lại ở phạt tiền, khoản 9 Điều 28 còn quy định các hình thức xử phạt bổ sung. Theo đó, số vàng có liên quan có thể bị tịch thu đối với hành vi thuộc khoản 8; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng có thể bị đình chỉ từ 06 tháng đến 09 tháng đối với trường hợp kinh doanh thông qua đại lý ủy nhiệm; hoạt động nhập khẩu vàng nguyên liệu có thể bị đình chỉ từ 09 tháng đến 12 tháng đối với trường hợp sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu không đúng giấy phép. Khoản 10 Điều 28 còn quy định biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng đối với trường hợp tái phạm hành vi kinh doanh mua, bán vàng miếng thông qua đại lý ủy nhiệm.
Một điểm cần đặc biệt lưu ý là các mức phạt tiền được quy định tại Điều 28 nêu trên là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định 340/2025/NĐ-CP mức phạt tiền đối với tổ chức có cùng một hành vi vi phạm hành chính bằng hai lần mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân. Vì vậy, mức phạt cao nhất 400 triệu đồng đối với cá nhân tương ứng với mức phạt cao nhất 800 triệu đồng đối với tổ chức nếu cùng thực hiện hành vi.
Tác động của quy định đến thị trường vàng và của các chủ thể tham gia
Quy định về vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tạo ra cơ chế xử phạt đối với nhiều nhóm hành vi. Mức phạt tăng dần theo tính chất của hành vi, từ cảnh cáo đối với một số vi phạm ban đầu đến mức phạt hàng trăm triệu đồng. Cùng với đó là các hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu vàng, đình chỉ hoạt động hoặc đề nghị thu hồi giấy phép trong những trường hợp được quy định.
Đối với các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, việc quy định rõ chế tài có thể tạo động lực để thị trường vận hành theo các điều kiện thống nhất hơn. Tuy nhiên, tác động còn phụ thuộc vào cách thức tổ chức thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn và áp dụng pháp luật trên thực tế. Đối với người tiêu dùng, các yêu cầu về niêm yết giá, tiêu chuẩn, nhãn hàng hóa và thanh toán qua tài khoản trong những trường hợp pháp luật quy định có thể làm tăng tính minh bạch của giao dịch.
Có thể thấy, điểm đáng chú ý của chính sách mới nằm ở việc nâng mức xử phạt còn ở việc mở rộng yêu cầu quản trị và minh bạch hóa hoạt động kinh doanh vàng. Với mức phạt cao nhất lên tới 400 triệu đồng đối với cá nhân và về nguyên tắc 800 triệu đồng đối với tổ chức, cùng khả năng áp dụng tịch thu vàng, đình chỉ hoạt động trong những trường hợp nhất định đã đặt ra yêu cầu đáng kể về tuân thủ pháp luật đối với thị trường vàng.
Từ góc độ doanh nghiệp, việc rà soát giấy phép và điều kiện kinh doanh cần được thực hiện song song với việc kiểm tra quy trình niêm yết giá, thanh toán, lập hóa đơn, ghi nhãn, quản lý nguồn nguyên liệu, lưu trữ dữ liệu và báo cáo. Đối với các hoạt động có yếu tố xuất nhập khẩu hoặc sản xuất vàng miếng, yêu cầu kiểm soát càng chặt chẽ hơn do mức xử phạt và các chế tài bổ sung có thể áp dụng ở mức cao. Như vậy, việc nắm rõ quy định giúp doanh nghiệp trong việc xác định mức phạt, hỗ trợ nhận diện những điểm cần kiểm soát trong toàn bộ quá trình kinh doanh. Đây cũng là cơ sở để các chủ thể tham gia thị trường chủ động rà soát hoạt động, hoàn thiện quy trình nội bộ và bảo đảm việc kinh doanh vàng được thực hiện phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành.
ThS. LS. Huỳnh Thị Mỹ Hằng