Giữ giá trị gia tăng tại nội địa: Lời giải cho ngành sản xuất tiên tiến Việt Nam

1 giờ trước

Giữ giá trị gia tăng tại nội địa: Lời giải cho ngành sản xuất tiên tiến Việt Nam

Các chuyên gia làm rõ những điểm nghẽn về năng lực, dòng vốn và cơ chế chính sách, qua đó mở ra định hình chiến lược giúp doanh nghiệp Việt Nam chuyển từ thế gia công giá trị thấp sang làm chủ công nghệ, giữ lại phần giá trị gia tăng xứng đáng cho nền kinh tế.

Tại phiên chuyên đề “Sản xuất tiên tiến: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt” trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 sáng ngày 27/10, các chuyên gia đã phân tích thực trạng chuỗi giá trị toàn cầu. Phiên thảo luận tập trung làm rõ những điểm nghẽn về năng lực, dòng vốn và cơ chế chính sách, qua đó mở ra định hình chiến lược giúp doanh nghiệp Việt Nam chuyển từ thế gia công giá trị thấp sang làm chủ công nghệ, giữ lại phần giá trị gia tăng xứng đáng cho nền kinh tế.

Phiên chuyên đề “Sản xuất tiên tiến: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt” trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 sáng ngày 27/10.

Thực trạng chuỗi giá trị và yêu cầu chuyển đổi tư duy cạnh tranh

Ngành sản xuất tiên tiến đang khẳng định vị thế là động lực tăng trưởng lớn thứ 2 của kinh tế toàn cầu từ nay đến năm 2030, chỉ sau dịch vụ công nghệ thông tin. Trong bối cảnh các tập đoàn đa quốc gia tích cực đa dạng hóa địa điểm sản xuất và chuỗi cung ứng, Việt Nam đứng trước cơ hội lớn để đón nhận làn sóng dịch chuyển này. Tuy nhiên, thách thức là Việt Nam sẽ giữ lại được bao nhiêu giá trị gia tăng thực sự.

Ước tính năm 2024 của Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương cho thấy giá trị xuất khẩu có sự chênh lệch hơn 4 lần khi chuyển từ các ngành thâm dụng lao động sang các ngành thâm dụng công nghệ. Song song đó, dữ liệu từ OECD chỉ ra tỷ trọng yếu tố nước ngoài trong hàng xuất khẩu của Việt Nam tăng từ 33% năm 2010 lên 48.5%. Dù hội nhập sâu rộng hơn, tỷ lệ giá trị xuất khẩu thực sự giữ lại trong nước lại có xu hướng giảm. Hiện nay, công nghệ cao là mảng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nơi chỉ cần giữ lại thêm 1% giá trị gia tăng cũng đã tương đương khoảng 3.8 tỷ USD/năm.

Phân tích về chỉ số giá trị gia tăng nội địa, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright nhấn mạnh tầm quan trọng của việc làm rõ bản chất số liệu. Các thống kê hiện hành về giá trị gia tăng nội địa thường tính gộp cả đóng góp của các nhà cung ứng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Nghiên cứu của Trường Fulbright đối với chuỗi sản phẩm công nghệ cao cho thấy tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa do chính doanh nghiệp thuần Việt đóng góp còn rất khiêm tốn, chỉ dao động từ 3-5%.

Đối với định hướng phát triển, Việt Nam không nên đặt bài toán theo tư duy chọn bên hay loại bỏ các ngành truyền thống để chạy theo các ngành thời thượng như bán dẫn hay AI. Các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày, đồ gỗ hay chế biến nông sản sở hữu chỉ số lợi thế cạnh tranh bộc lộ (RCA) gấp 3-4 lần mức trung bình, đóng vai trò sống còn trong giải quyết việc làm. Theo mô hình đường cong nụ cười (Smiling Curve), công đoạn sản xuất và lắp ráp nằm ở đáy giá trị. Giải pháp chiến lược là nâng cấp chính các ngành truyền thống lên nấc thang cao hơn ở cả thượng nguồn và hạ nguồn thông qua sản xuất thông minh, công nghệ sinh học và tối ưu hóa quy trình.

Dưới góc nhìn tư vấn khu vực, bà Ishita Dhamani - Đối tác cấp cao mảng Dịch vụ Tư vấn Chuỗi cung ứng tại EY Singapore cho rằng yếu tố quyết định mà các nhà thu mua quốc tế tìm kiếm ở một nhà cung ứng không chỉ là khả năng thực thi chỉ thị, mà là năng lực thực sự đồng hành để tạo ra kết quả. Bài học từ một tập đoàn sản xuất bán dẫn tại Singapore - đơn vị thu hút tới 80% chuỗi cung ứng từ các đối tác toàn cầu - cho thấy doanh nghiệp nội địa cần chứng minh 3 năng lực: Chiều sâu kỹ thuật để cùng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo với đối tác; năng lực mở rộng quy mô, chuyển đổi thành công từ dự án thử nghiệm sang quy trình sản xuất thương mại hóa ổn định; khả năng xây dựng mối quan hệ tin cậy thông qua sự minh bạch trong quản trị rủi ro, kiểm soát chất lượng và sẵn sàng đối thoại giải quyết sự cố kỹ thuật.

Tháo gỡ nút thắt và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, người mua hàng quốc tế và doanh nghiệp nội địa

Thực trạng hiện nay phản ánh "bài toán con gà và quả trứng" điển hình khi các tập đoàn đa quốc gia không thể mua hàng nếu doanh nghiệp nội địa chưa đạt chuẩn chất lượng, nhưng doanh nghiệp nội địa lại không dám mạo hiểm đầu tư vốn lớn vào công nghệ khi chưa có cam kết đơn hàng chắc chắn.

Phân tích về điểm nghẽn này, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng đây là hình mẫu của thất bại thị trường trên 3 khía cạnh: Bất cân xứng thông tin, rủi ro thực thi hợp đồng và sự thiếu hụt của thị trường vốn dành cho đổi mới công nghệ. Để tháo gỡ, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thông qua các cơ chế chia sẻ rủi ro. Mô hình tài trợ đối ứng 3 bên giữa Nhà nước, nhà cung ứng nội địa và người mua quốc tế là một giải pháp hữu hiệu. Khi cả người mua và nhà cung ứng cùng cam kết đóng góp tài chính, rủi ro đạo đức sẽ được triệt tiêu, tạo động lực hợp tác nâng cao năng lực. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể thiết lập các quỹ bảo lãnh tín dụng chấp nhận chịu rủi ro tầng đầu, hoặc triển khai các giải pháp tài chính chuỗi cung ứng như bao thanh toán ngược, nơi ngân hàng tài trợ vốn cho nhà cung ứng dựa trên chính cam kết bảo lãnh mua hàng của các tập đoàn đa quốc gia.

Về tiến trình dịch chuyển trong chuỗi giá trị, ông Khuất Quang Hưng - Phó Tổng Giám đốc phụ trách Đối ngoại, Truyền thông & Phát triển Bền vững, Nestlé Việt Nam cho rằng cần phân biệt rõ 2 cấp độ phát triển. Việc đáp ứng các tiêu chuẩn về ESG hay truy xuất nguồn gốc mới chỉ là chiếc vé thông hành tối thiểu để bước qua cửa và duy trì vị trí trong chuỗi. Việc dịch chuyển lên các nấc thang cao hơn để tạo ra nhiều giá trị gia tăng lại đòi hỏi năng lực sáng tạo và khả năng giải quyết trực tiếp các bài toán thực tế của khách hàng. Thống kê cho thấy trong hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, chỉ có khoảng 5,000 doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia, và số lượng doanh nghiệp đạt cấp độ nhà cung ứng cấp 1 chỉ dừng lại ở con số khiêm tốn khoảng 300. Để gia tăng số lượng này, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực giải quyết vấn đề, trong khi các tập đoàn đa quốc gia cần mở lòng, tin tưởng và sẵn sàng chuyển giao những công đoạn sản xuất quan trọng hơn cho các đối tác nội địa.

Định hình tương lai chuỗi cung ứng Việt Nam

Giải đáp câu hỏi về chính sách hỗ trợ công nghiệp và phát triển thương hiệu quốc gia, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn nhấn mạnh chính sách Nhà nước cần phân định rõ ràng giữa doanh nghiệp quy mô nhỏ và doanh nghiệp quy mô vừa. Không thể cào bằng 2 nhóm này vì chỉ có các doanh nghiệp quy mô vừa mới đủ tiềm lực và quy mô để nâng cấp và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước cần tập trung đúng vào phân khúc doanh nghiệp quy mô vừa để giải quyết bài toán thiếu hụt ở đoạn giữa của nền kinh tế, đồng thời phối hợp với các tập đoàn đa quốc gia để đưa ra các tiêu chí kỹ thuật và định hướng mua hàng rõ ràng.

Đối với bài toán thương hiệu quốc gia, việc tạo ra các khẩu hiệu hay nhãn hiệu như "Make in Vietnam" sẽ không mang lại giá trị thực chất nếu thiếu đi nội hàm quản trị và các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt đi kèm. Nếu không kiểm soát chặt chất lượng và tính minh bạch của các sản phẩm được dán nhãn, nguy cơ làm giả và gian lận xuất xứ sẽ phá hủy uy tín thương hiệu quốc gia. Chính phủ và Bộ Công Thương cần xây dựng một bộ tiêu chuẩn quản trị thương hiệu quốc gia thật sự nghiêm ngặt, minh bạch và nhất quán. Việc bảo vệ và gia tăng giá trị cho thương hiệu quốc gia chính là nền tảng cốt lõi để nâng cao giá trị và vị thế cạnh tranh cho từng doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.

Cát Lam

FILI