Doanh nghiệp nợ thuế: Giám đốc có phải lấy tài sản cá nhân trả?
Doanh nghiệp nợ thuế: Giám đốc có phải lấy tài sản cá nhân trả?
Doanh nghiệp nợ thuế, cơ quan thuế có được kê biên nhà, đất, ô tô hoặc tài sản riêng của giám đốc để thu hồi nợ hay không? Đây là vấn đề được nhiều chủ doanh nghiệp quan tâm, nhất là khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục giải thể hoặc phát sinh khoản nợ thuế lớn. Việc xác định trách nhiệm phải căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, tư cách của người quản lý và nguyên nhân phát sinh nghĩa vụ thuế.
Nợ thuế của công ty không mặc nhiên là nợ của giám đốc
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, tại Điều 74 Luật Doanh nghiệp năm 2020, sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Đối với công ty cổ phần, khoản 1 Điều 111 cũng xác định cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Việc giám đốc không đương nhiên phải dùng tài sản riêng không có nghĩa doanh nghiệp có thể trì hoãn hoặc né tránh nghĩa vụ thuế. Từ ngày 01/7/2026, Luật Quản lý thuế năm 2025 chính thức có hiệu lực, thay thế cơ chế quản lý thuế trước đó và tiếp tục quy định hệ thống biện pháp cưỡng chế để thu hồi các khoản thuế, khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước.
Theo Điều 49 Luật Quản lý thuế năm 2025, các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế gồm: trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản; khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; dừng làm thủ tục hải quan; ngừng sử dụng hóa đơn; thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ; kê biên, bán đấu giá tài sản kê biên; nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản và một số biện pháp khác theo luật.
Như vậy, khi doanh nghiệp thuộc trường hợp bị cưỡng chế, tài khoản và tài sản của doanh nghiệp có thể bị xử lý theo trình tự pháp luật. Nhưng cần phân biệt rất rõ giữa tài sản của đối tượng bị cưỡng chế và tài sản riêng của người đại diện theo pháp luật.
Doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh là trường hợp khác
Một điểm đặc biệt là không thể áp dụng nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn cho tất cả các loại hình doanh nghiệp.
Theo khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2020, sửa đổi bổ sung năm 2025, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Vì vậy, nếu doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ thuế chưa hoàn thành thì tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân và tài sản phục vụ hoạt động của doanh nghiệp không được phân tách theo cơ chế trách nhiệm hữu hạn như công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
Tương tự, đối với công ty hợp danh, khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp năm 2020, sửa đổi bổ sung năm 2025, quy định thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Trong khi đó, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty.
Do đó, nếu người đứng đầu hoặc điều hành công ty hợp danh đồng thời là thành viên hợp danh thì trách nhiệm tài sản hoàn toàn khác với trường hợp một giám đốc được thuê để điều hành công ty cổ phần hoặc công ty TNHH.
Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên cần đặc biệt lưu ý nghĩa vụ góp vốn
Đối với công ty TNHH một thành viên, nguyên tắc chung là chủ sở hữu chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn điều lệ. Tuy nhiên, nguyên tắc này không có nghĩa chủ sở hữu luôn được bảo vệ trong mọi trường hợp.
Theo Điều 75 Luật Doanh nghiệp năm 2020, sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định chủ sở hữu phải góp vốn cho công ty đủ và đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản. Trong thời hạn này, chủ sở hữu công ty có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần vốn góp đã cam kết.
Trường hợp không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Doanh nghiệp, chủ sở hữu công ty phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ bằng giá trị số vốn đã góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ. Trường hợp này, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày cuối cùng công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ theo quy định.
Đáng chú ý, khoản 4 Điều 75 Luật Doanh nghiệp quy định chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ theo quy định.
Như vậy, trong trường hợp một người vừa là Giám đốc vừa là chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, muốn xác định có phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng hay không phải kiểm tra cả tình trạng góp vốn. Không thể chỉ căn cứ vào tên gọi “công ty TNHH một thành viên” để kết luận rằng tài sản cá nhân trong mọi trường hợp đều không bị ảnh hưởng.
Từ các quy định hiện hành, có thể thấy câu trả lời cho vấn đề “doanh nghiệp nợ thuế, giám đốc có phải lấy tài sản cá nhân trả không?” phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Doanh nghiệp nợ thuế không đồng nghĩa giám đốc đương nhiên phải bán nhà, bán đất hoặc dùng tiền riêng để trả nợ thuế. Nhưng trách nhiệm hữu hạn cũng không phải là “lá chắn tuyệt đối”. Khi cá nhân có trách nhiệm vô hạn theo loại hình doanh nghiệp, không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn, thuộc trường hợp pháp luật thuế quy định phải hoàn thành nghĩa vụ hoặc trực tiếp có hành vi vi phạm pháp luật, tài sản và trách nhiệm pháp lý của cá nhân có thể được đặt ra.
Đối với doanh nghiệp đang có nợ thuế, điều quan trọng nhất không phải chỉ là xác định số tiền còn nợ, mà phải xác định đúng người nộp thuế, loại hình doanh nghiệp, tư cách pháp lý của giám đốc và chủ sở hữu, tình trạng góp vốn, tình trạng hoạt động của doanh nghiệp và các vấn đề khác làm phát sinh nghĩa vụ thuế. Đây mới là cơ sở để xác định chính xác liệu tài sản cá nhân của người quản lý có thể bị đặt trước trách nhiệm thanh toán hay không.
ThS. LS. Huỳnh Thị Mỹ Hằng