Để khoản vay không trở thành gánh nặng tài chính
Để khoản vay không trở thành gánh nặng tài chính
Sau thời gian ưu đãi, khoản vay mua nhà, ô tô có thể bước vào giai đoạn trả nợ nặng hơn. Trong khi đó, tín chấp, trả góp, thẻ tín dụng và thấu chi dễ tạo áp lực cộng dồn. Điều người vay cần quan tâm là ngân sách còn đủ cho cuộc sống và dự phòng sau mỗi kỳ thanh toán.
Tín dụng giúp nhiều gia đình sớm sở hữu nhà ở, phương tiện và đáp ứng nhu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, quyết định vay thường được đưa ra trong điều kiện thu nhập thuận lợi và lãi suất ban đầu hấp dẫn. Khi chi phí vốn thay đổi hoặc thu nhập giảm, khả năng trả nợ có thể khác so với dự tính.
Với khoản vay có lãi suất thả nổi, mức lãi sau ưu đãi thường được xác định theo lãi suất cơ sở hoặc tham chiếu cộng biên độ trong hợp đồng. Áp lực càng rõ nếu thời điểm điều chỉnh lãi suất trùng với kết thúc ân hạn gốc. Khoản thanh toán tăng trong khi thu nhập chưa cải thiện khiến phần tiền dành cho gia đình thu hẹp.
Giả định dư nợ còn 1 tỷ đồng, lãi suất tăng từ 8% lên 15%/năm, tiền lãi tính đơn giản trên cùng dư nợ tăng khoảng 5.83 triệu đồng mỗi tháng, chưa kể gốc. Đây là tình huống minh họa, không phải mặt bằng lãi suất chung. Tuy nhiên, chênh lệch này cho thấy vì sao người vay cần chuẩn bị cho cả giai đoạn sau ưu đãi.
Rủi ro cũng nằm ở sự lệch nhau giữa tài sản và dòng tiền. Bất động sản có giá trị nhưng chưa chắc bán được đúng lúc hoặc tạo thu nhập cho thuê liên tục. Ô tô thường giảm giá và phát sinh chi phí vận hành. Giá trị tài sản trên giấy không thể thay thế nguồn tiền thực có vào ngày trả nợ.
Đối với vay tiêu dùng tín chấp, chi phí vốn thường cao hơn khoản vay có tài sản bảo đảm; một số sản phẩm thuộc nhóm lãi suất cao trong tín dụng bán lẻ. Không nên mặc định mọi khoản tín chấp đều có lãi suất cao nhất thị trường. Mức thực tế phụ thuộc sản phẩm, hồ sơ và điều kiện vay, nhưng cần được cân nhắc kỹ.
Đặc biệt, không phải mọi khoản vay tín chấp đều chuyển từ ưu đãi sang thả nổi. Có khoản áp dụng lãi suất cố định nhưng vẫn tạo sức ép do chi phí cao và kỳ hạn ngắn. Người vay phải kiểm tra số tiền thực nhận, tổng tiền hoàn trả, phí bắt buộc và phương pháp tính lãi trên dư nợ ban đầu hay dư nợ giảm dần.
Khoản trả góp nhỏ dễ tạo cảm giác nhẹ gánh. Một chiếc điện thoại, món đồ gia dụng hay khoản tiền mặt có thể riêng lẻ đều vừa sức, nhưng cộng lại chiếm đáng kể thu nhập. Với chương trình “0%”, cần kiểm tra phí chuyển đổi, phí dịch vụ và điều kiện ưu đãi. Khả năng chi trả phải tính trên toàn bộ nghĩa vụ đang có.
Thẻ tín dụng đòi hỏi kỷ luật thanh toán. Trả tối thiểu đúng hạn không đồng nghĩa được miễn lãi; cách tính lãi và điều kiện khôi phục miễn lãi phụ thuộc điều khoản của thẻ. Khi liên tục trả tối thiểu nhưng tiếp tục chi tiêu, dư nợ có thể kéo dài. Rút tiền mặt bằng thẻ cần được cân nhắc vì có thể phát sinh phí và lãi sớm.
Thấu chi cũng là khoản vay, không phải thu nhập bổ sung. Lãi thường phát sinh trên số tiền thực sử dụng và thời gian sử dụng. Nếu tháng nào cũng phải thấu chi để trang trải sinh hoạt, gia đình nên rà soát ngân sách. Hạn mức được cấp thể hiện khả năng tiếp cận vốn, chưa phản ánh mức chi tiêu bền vững của từng người.
Dấu hiệu cần hành động sớm là phải vay mới để trả khoản cũ, dùng thẻ cho chi thiết yếu vì thu nhập đã dành hết trả nợ, hoặc thường xuyên thiếu tiền trước kỳ lương. Khi đó, cần xác định thiếu hụt bao nhiêu và kéo dài bao lâu. Trì hoãn xử lý có thể khiến chi phí tăng và lựa chọn thu hẹp.
Bước đầu tiên là lập bảng toàn bộ dư nợ, gồm mua nhà, mua xe, tín chấp, trả góp, thẻ và thấu chi. Ghi rõ khoản thanh toán, ngày đến hạn, thời điểm điều chỉnh lãi suất và phí tất toán. Đối chiếu với thu nhập ổn định sau thuế cùng chi thiết yếu để xác định phần tiền còn lại mỗi tháng.
Có thể dùng tổng trả gốc và lãi khoảng 30–35% thu nhập thực nhận ổn định làm ngưỡng tham khảo thận trọng, không phải quy định chung. Gia đình có thu nhập biến động hoặc nhiều người phụ thuộc cần ngưỡng thấp hơn. Quan trọng hơn tỷ lệ là sau trả nợ vẫn đủ chi sinh hoạt, học hành, chăm sóc sức khỏe và dự phòng.
Khi dự báo khó thanh toán đúng hạn, nên trao đổi sớm với ngân hàng để rà soát lãi suất, tìm hiểu phương án điều chỉnh lịch trả nợ. Việc chấp thuận phụ thuộc hồ sơ và điều kiện áp dụng. Kéo dài thời hạn có thể giảm khoản trả hằng tháng nhưng tăng tổng tiền lãi; cần xem xét cả khả năng trả nợ về sau.
Nếu có tiền dư, cần bảo đảm các nghĩa vụ đến hạn, giữ khoản dự phòng rồi cân nhắc trả thêm món nợ có chi phí thực cao nhất, tính cả phí tất toán. Quỹ dự phòng nên từng bước hướng tới 3–6 tháng chi thiết yếu và trả nợ. Tránh dồn hết tiền trả trước rồi phải vay đắt hơn khi có việc bất ngờ.
Chuyển khoản vay chỉ đáng cân nhắc khi tổng chi phí giảm và lịch thanh toán phù hợp. Phải cộng phí trả trước, định giá, thủ tục bảo đảm và chi phí liên quan. Nếu thiếu hụt kéo dài, nên giảm chi chưa cần thiết, dừng phát sinh nợ tiêu dùng và xem xét xử lý tài sản hiệu quả thấp theo kế hoạch.
Người chuẩn bị vay nên thử ngân sách khi lãi suất tăng thêm 3-5 điểm phần trăm, thu nhập giảm 20% và hết ân hạn gốc. Với khoản vay cố định, vẫn phải tính tình huống thu nhập suy giảm. Nếu không còn đủ tiền sống và dự phòng, giảm mức vay, tăng vốn tự có hoặc lùi quyết định là lựa chọn hợp lý.
Trước khi ký, cần yêu cầu bảng trả nợ sau ưu đãi và làm rõ cơ chế điều chỉnh lãi suất. Vay mua xe phải cộng gửi xe, nhiên liệu, bảo hiểm, bảo dưỡng; vay mua nhà cần tính phí quản lý, sửa chữa và hoàn thiện. Khoản vay phù hợp phải nằm trong khả năng trang trải tổng chi phí sở hữu.
Thông tin minh bạch, thông báo sớm và tư vấn phù hợp từ bên cho vay giúp người dân chủ động hơn. Về phía gia đình, giới hạn vay nên dựa trên khả năng chịu đựng khi điều kiện thay đổi. Một quyết định tài chính bền vững cần giữ được cả nghĩa vụ thanh toán, nhu cầu thiết yếu và sự bình tâm trong cuộc sống.
Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi