Bài toán thuế carbon trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Bài toán thuế carbon trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Sở hữu và quản trị dữ liệu phát thải minh bạch không chỉ giúp các nhà sản xuất đáp ứng yêu cầu tuân thủ khắt khe từ thị trường quốc tế, mà còn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và cơ hội bứt phá của doanh nghiệp.
Tại hội thảo Tiêu chuẩn ESG và các giải pháp thực thi Net Zero tại nhà máy ngày 02/10, ông Nguyễn Công Minh Bảo, Đồng sáng lập và Đối tác điều hành Green Transition, Giám đốc Quốc gia GRI Việt Nam, cho biết nền kinh tế Việt Nam đang chuyển dịch từ vai trò thượng nguồn (upstream) sang trung nguồn (midstream) trong chuỗi cung ứng sang Châu Âu và Mỹ. Tốc độ tăng trưởng GDP hiện đạt 8% và được kỳ vọng sẽ tiến lên mức hai chữ số vào cuối năm 2026.
Ông Nguyễn Công Minh Bảo, Đồng sáng lập và Đối tác điều hành Green Transition, Giám đốc Quốc gia GRI Việt Nam. Ảnh: Thanh Trúc
|
Quy mô hạ tầng công nghiệp cũng mở rộng nhanh chóng, với khoảng 80 khu công nghiệp tại khu vực TPHCM mở rộng hiện nay và kế hoạch tiến tới gần 100 khu công nghiệp vào năm 2030.
Cùng với sự phát triển này là áp lực tuân thủ các quy định phát triển bền vững từ Liên minh Châu Âu (EU) như cơ chế CBAM hay báo cáo phát triển bền vững, cũng như các chính sách tại nhiều bang của Mỹ (California, Colorado, New York).
Để đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050, 98% doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với 4 vấn đề cốt lõi về ESG: thu thập dữ liệu chuỗi cung ứng (phát thải phạm vi 1, 2 và 3), xử lý chất thải, ứng dụng kinh tế tuần hoàn và đảm bảo tính minh bạch của dữ liệu.
Ông Bảo nhấn mạnh: "Để đo lường được, để quản lý được thì mình cần dữ liệu". Dữ liệu chính xác giúp ban lãnh đạo xác định điểm mạnh, yếu, đưa ra tầm nhìn dài hạn, quản trị rủi ro và tăng cơ hội tiếp cận nguồn vốn xanh.
Áp lực từ thuế carbon CBAM
Đi sâu vào bài toán tuân thủ, ông Phùng Ngọc Bảo Anh, Cố vấn cấp cao về Phát triển bền vững SGS Việt Nam, cho biết cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đã chính thức áp dụng từ năm 2026 sau giai đoạn chuyển tiếp, tập trung vào 6 nhóm ngành: sắt thép, xi măng, nhôm, phân bón, hydrogen và điện.
ông Phùng Ngọc Bảo Anh, Cố vấn cấp cao về Phát triển bền vững SGS Việt Nam. - Ảnh: Thanh Trúc
|
Lộ trình siết chặt CBAM factor sẽ tăng từ mức 3% trong năm 2026 lên 100% vào năm 2034. Đặc biệt, giai đoạn 2029 - 2030 ghi nhận mức tăng mạnh nhất, vọt từ 23% lên 49% chỉ trong một năm.
Điều này đồng nghĩa chi phí carbon của doanh nghiệp có thể tăng gần gấp đôi dù công nghệ và sản lượng không thay đổi. Năm 2026 và 2027 được đánh giá là thời điểm chi phí rẻ nhất và là cơ hội cuối cùng để doanh nghiệp chuẩn bị cho bước nhảy vọt này.
Nếu không có số liệu phát thải thực tế, doanh nghiệp buộc phải dùng hệ số mặc định của EU và chịu thêm phí phạt ẩn ở mức 10% trong năm 2026, 20% vào năm 2027 và 30% từ năm 2028.
Ví dụ, xuất khẩu 1,000 tấn sản phẩm với hệ số mặc định vào năm 2026, dựa trên giá chứng chỉ CBAM quý 2/2026 là 75.28 euro/tấn, doanh nghiệp có thể phải chi khoảng 181,000 euro tiền mua chứng chỉ. Nếu giữ nguyên các điều kiện này đến năm 2030, số lượng chứng chỉ và chi phí tương ứng sẽ tăng thêm 55%.
Tại thị trường trong nước, theo quyết định mới nhất, danh sách cơ sở phải kiểm kê khí nhà kính đã được nâng lên 2,441 doanh nghiệp. Do đó, việc xây dựng hệ thống giám sát phát thải nội bộ và được thẩm tra bởi bên thứ ba độc lập là giải pháp bắt buộc. Dữ liệu phát thải càng thấp hơn mức chuẩn, nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp càng giảm, thậm chí bằng 0.
Đúc kết lại vấn đề, ông Bảo Anh khẳng định: "CBAM không hỏi doanh nghiệp là có dữ liệu hay đã sẵn sàng hay chưa mà CBAM chỉ hỏi là quý vị ở đây hay là doanh nghiệp ở đây nó có dữ liệu hay không vậy thôi". Cơ hội trên thị trường quốc tế giờ đây sẽ thuộc về những doanh nghiệp chủ động số hóa và minh bạch dữ liệu từ sớm.
Thanh Trúc