Áp lực giá nhiên liệu đè nặng lên lá phiếu bầu cử giữa kỳ Mỹ
Áp lực giá nhiên liệu đè nặng lên lá phiếu bầu cử giữa kỳ Mỹ
Quyết định mua dầu diesel từ Nga của Tổng thống Donald Trump nhằm hạ giá nhiên liệu trước bầu cử giữa kỳ đang gây xôn xao dư luận. Lượng diesel dự kiến mua chỉ đủ cho nước Mỹ dùng trong một ngày, khó giải quyết cơn sốt giá. Dù vậy, nỗi lo mất phiếu bầu của Đảng Cộng hòa đã đè bẹp các cam kết ngoại giao quốc tế.
Giá dầu diesel tại Mỹ đang ở mức đỉnh nhiều thập kỷ. Ảnh: AP.
|
Ngày 9/10/2026, giữa lúc cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ ngày càng đến gần, Tổng thống Donald Trump bất ngờ công bố thỏa thuận với Tổng thống Nga Vladimir Putin. Ngày 12/10, ông Trump tiếp tục lên tiếng bảo vệ thỏa thuận trước làn sóng chỉ trích từ Quốc hội. Phía Nga sẽ chuyển các chuyến tàu chở dầu diesel sang bờ Đông nước Mỹ. Bộ Tài chính Mỹ sẽ cấp giấy phép nới lỏng lệnh cấm vận nhiên liệu Nga đến ngày 7/4/2027 để mở đường cho dòng hàng này.
Bước đi này diễn ra khi giá dầu diesel bán lẻ tại Mỹ lập đỉnh 6.52 USD/gallon (khoảng 3.78 lít). Tại bang California, giá nhiên liệu thậm chí gần chạm ngưỡng kỷ lục 10 USD/gallon. Chi phí tăng vọt khiến mỗi chuyến xe tải chạy đường dài tốn thêm hàng ngàn USD, kéo theo giá hàng hóa tiêu dùng leo thang và đẩy mức độ tín nhiệm của cử tri đối với chính quyền Washington xuống đáy.
Quyết định mua nhiên liệu từ Moscow lập tức vấp phải phản ứng gay gắt từ Ukraine, các đồng minh châu Âu và nhiều nghị sĩ Mỹ. Với Tổng thống Trump, đây là cú sốc tháng Mười nhằm phát đi tín hiệu xoa dịu cử tri trước ngày bỏ phiếu 3/11/2026. Tuy nhiên, sự đánh đổi ngoại giao này đặt ra câu hỏi lớn về tính thực tế của nguồn hàng nhập khẩu từ Nga.

Nỗ lực hạ giá dầu trước ngày bầu cử
Áp lực lớn nhất của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử năm 2026 nằm ở túi tiền người dân. Giá dầu diesel tăng hơn 70% kể từ khi chiến sự Trung Đông bùng phát cuối tháng 2/2026, gây ra bất lợi lớn tại những bang chiến địa. Tổng thống Trump hiểu rằng nếu không chặn được đà tăng giá nhiên liệu, quyền kiểm soát lưỡng viện Quốc hội sẽ rơi vào tay Đảng Dân chủ.
Nhà Trắng chấp nhận hứng chịu chỉ trích từ nội bộ đảng Cộng hòa để bổ sung nguồn cung nhiên liệu. 4 thượng nghị sĩ Cộng hòa chủ chốt đã cùng phe Dân chủ ra tuyên bố chung phản đối việc tiếp tế tài chính cho Nga. Dự luật mang tên Ronald Reagan được chuẩn bị tại Hạ viện nhằm ngăn chặn Tổng thống dỡ bỏ cấm vận, thể hiện mối bất hòa sâu sắc tại chính trường Washington.
Theo thông báo đưa ra, Nga sẽ cung cấp ngay đợt đầu 300,000 tấn dầu diesel cho Mỹ và thị trường toàn cầu. Tiếp đó, Moscow chuyển thêm 500,000 tấn trong tháng 11/2026, thêm 1 triệu tấn nữa ngay sau đó, và sẽ cung cấp thêm 3 triệu tấn nữa trong thời gian ngắn tiếp theo (nâng tổng khối lượng cam kết lên khoảng 4.8 triệu tấn). Thoạt nghe, những con số này mang lại cảm giác về nguồn hàng dồi dào sẵn sàng tràn vào giải cứu các cây xăng tại Mỹ.
Thế nhưng, đặt vào bức tranh tiêu thụ thực tế, con số 300,000 tấn dầu diesel chỉ tương đương khoảng 2.2 triệu thùng. Hiện nay, mỗi ngày nước Mỹ tiêu thụ gần 4 triệu thùng dầu diesel cho hoạt động vận tải và sản xuất. Toàn bộ lô hàng đầu tiên từ Nga thực chất chỉ đủ đáp ứng nhu cầu nước Mỹ trong khoảng 14 - 16 giờ sử dụng.
Bên cạnh khối lượng nhỏ bé, yếu tố thời gian cũng biến thỏa thuận thành lời hứa biểu tượng. Giới phân tích vận tải biển chỉ ra rằng việc thuê tàu và chở dầu từ Nga về bờ Đông nước Mỹ mất ít nhất ba tuần. Các chuyến hàng sớm nhất cũng chỉ cập cảng sát ngày bầu cử, không kịp đưa vào mạng lưới phân phối để hạ giá trước giờ bỏ phiếu.
Nghi vấn về nguồn hàng càng lớn hơn khi nhìn vào thực trạng các cơ sở hóa dầu của Nga. Những đợt tập kích của Ukraine đã làm hư hại 30% công suất lọc dầu của Nga (theo ước tính của Atlantic Council). Bản thân Moscow từng cấm xuất khẩu diesel từ tháng 7/2026, cho thấy cam kết cấp hàng triệu tấn nhiên liệu thực chất chỉ là đòn ngoại giao khó thành hiện thực.
Các chuyên gia năng lượng ví thỏa thuận này như việc sắp xếp lại ghế trên con tàu đang chìm, tức chỉ tạo khác biệt hình thức bề mặt chứ không giải quyết được vấn đề căn bản. Nếu lượng dầu ít ỏi của Nga dồn sang Mỹ, các khách hàng cũ phải tìm mua nơi khác, khiến mặt bằng giá thế giới không hề giảm. Điều đó dẫn tới câu hỏi vì sao một nước khai thác dầu thô hàng đầu như Mỹ lại rơi vào cảnh thiếu hụt dầu diesel trầm trọng.
Chuỗi biến cố từ Biển Đen, Vùng Vịnh đến các kho dự trữ
Trước khi tìm đến Moscow, Washington và các đối tác đã dùng những biện pháp can thiệp hành chính mạnh tay nhất. Ngày 2/10/2026, nhóm G7 và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) tuyên bố xả khẩn cấp 100 triệu thùng dầu từ kho dự trữ. Dù vậy, giá dầu diesel tại châu Âu vẫn ở sát mức 200 USD/thùng, còn giá bán lẻ tại Mỹ không hạ nhiệt như mong đợi.
Nguyên nhân nằm ở việc các kho dự trữ chiến lược chủ yếu chứa dầu thô chưa qua tinh chế. Trong khi đó, thứ thị trường đang thiếu hụt trầm trọng lại là dầu diesel thành phẩm. Tại Mỹ, lượng dầu diesel lưu kho vào cuối tháng 8/2026 rơi xuống mức 103.4 triệu thùng, đáy thấp nhất nhiều năm, khiến chiếc phao cứu sinh từ kho dự trữ quốc gia gần như mất tác dụng.

Sự khan hiếm nhiên liệu càng bị đẩy lên cao bởi các điểm nghẽn vận tải đường biển. Tại eo biển Hormuz, tuyến hàng hải chuyên chở 20 triệu thùng dầu mỗi ngày bị phong tỏa, lượng tàu qua lại giảm sâu. Vụ tấn công tàu chở dầu ngoài khơi Qatar đầu tháng 10/2026 tiếp tục đẩy cước và phí bảo hiểm lên cao, giữ giá dầu Brent trên 100 USD/thùng.
Tại khu vực Trung Đông, đòn tập kích tên lửa và máy bay không người lái vào sân bay quốc tế Riyadh ngày 11/10/2026 làm chấn động an ninh vùng Vịnh. Các bồn chứa nhiên liệu bị đe dọa khiến hoạt động xuất khẩu của Saudi Arabia thêm bất an. Dòng chảy nhiên liệu từ các nhà máy lọc dầu Trung Đông sang phương Tây bị gián đoạn, triệt tiêu nguồn bổ sung cho Đại Tây Dương.
Nhưng gốc rễ cơn sốt giá nằm ở nút thắt kỹ thuật của chính ngành lọc dầu phương Tây. Nước Mỹ khai thác lượng dầu thô kỷ lục, nhưng phần lớn là dầu đá phiến nhẹ và ngọt. Loại dầu này chỉ tối ưu để chế biến ra xăng cho xe hơi, cho tỷ lệ dầu diesel rất thấp. Để nấu ra nhiều diesel với chi phí rẻ, các xưởng bắt buộc phải phối trộn dầu nặng của Nga.
Cùng lúc đó, hệ thống xưởng lọc dầu tại Mỹ và châu Âu suy giảm nghiêm trọng sau 15 năm giảm đầu tư vì mục tiêu năng lượng xanh. Hàng chục nhà máy cũ bị đóng cửa mà không có cơ sở mới thay thế. Các xưởng còn lại chạy hết 98% công suất và không thể tăng thêm, khiến tiền công lọc dầu diesel (crack spread) tại Mỹ vọt lên mức kỷ lục 100 USD/thùng.
Sự đứt gãy công suất lọc dầu khiến thị trường rơi vào nghịch lý: dầu thô không thiếu nhưng nhiên liệu chạy xe lại khan hiếm. Khi các xưởng nội địa không thể làm thêm và nguồn nhập khẩu từ Trung Đông bị nghẽn, áp lực thiếu hụt truyền thẳng tới các cây xăng. Toan tính chính trị cuối cùng phải lùi bước trước nhu cầu vận tải đời thực của người dân.
Năng lượng quan trọng hơn ngoại giao?
Dầu diesel không đơn thuần là mặt hàng năng lượng, mà là mạch máu nuôi dưỡng toàn bộ nền kinh tế thực. Tại Mỹ, hơn 80% hàng hóa thương mại được chuyên chở bằng xe tải hạng nặng và đầu máy xe lửa chạy diesel. Trong vụ thu hoạch mùa thu, hàng triệu chiếc máy cày, máy gặt của nông dân phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nhiên liệu này để đưa nông sản ra thị trường.
Theo thống kê của các hiệp hội bán lẻ, chi phí nhiên liệu chiếm 15-30% giá thành lương thực. Khi giá dầu diesel tăng cao, phụ phí vận tải lập tức cộng thẳng vào giá thịt, sữa và rau quả tại siêu thị. Khoản chi phí sinh hoạt đội lên mỗi ngày đè nặng lên thu nhập của người lao động, biến giá dầu thành thước đo cho lá phiếu cử tri.
Chính tại điểm giao cắt này, mâu thuẫn giữa chính trị và kinh tế bộc lộ rõ nét. Các hiệp ước đồng minh và chính sách cấm vận quốc tế đòi hỏi sự kiên trì kéo dài nhiều năm. Nhưng chu kỳ bầu cử tại Mỹ diễn ra hai năm một lần. Trước nguy cơ bị cử tri trừng phạt tại hòm phiếu, các nhà lãnh đạo buộc phải tìm mọi cách hạ nhiệt giá cả ngắn hạn.
Thực tế cho thấy những lệnh cấm vận tài chính và phong tỏa ngân hàng có thể làm nghẽn dòng tiền trên giấy, nhưng bất lực trước nhu cầu hàng hóa vật chất. Một nền kinh tế không thể chạy bằng các sắc lệnh khi xe cộ thiếu dầu để lăn bánh. Sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên hóa thạch truyền thống vẫn là ràng buộc không thể xóa bỏ chỉ sau vài năm ngắn ngủi.
Thỏa thuận mua 300,000 tấn dầu diesel từ Nga khó có thể kéo giá nhiên liệu tại Mỹ đi xuống trước ngày 3/11/2026. Với thời gian vận chuyển kéo dài và khối lượng chỉ bằng nửa ngày tiêu thụ, giá trị lớn nhất của lô hàng này nằm ở khía cạnh tâm lý chính trị. Nó là thông điệp vội vã được tung ra nhằm xoa dịu nỗi bất bình của cử tri trước giờ bỏ phiếu.
Mọi chính sách trừng phạt chỉ duy trì chừng nào cái giá phải trả không đe dọa trực tiếp tới mức sống và lá phiếu của người dân trong nước. Khi gánh nặng chi phí vượt ngưỡng chịu đựng của xã hội, sự gắn kết của các khối đồng minh tất yếu xuất hiện vết nứt.
Nhìn rộng ra bức tranh toàn cầu, bài toán thiếu hụt dầu diesel là lời cảnh tỉnh cho quá trình chuyển đổi năng lượng vội vã. Việc cắt giảm xưởng lọc dầu truyền thống khi chưa có hạ tầng thay thế đã tự tước đi năng lực tự chủ của các quốc gia. Khi khủng hoảng nổ ra, cái giá phải trả là sự bất ổn kinh tế và những thỏa hiệp chính trị đầy nghịch lý.
Đức Quyền