VASEP lo xuất khẩu đội chi phí vì gánh thêm chuẩn trong nước

16/09/2026 12:11

VASEP lo xuất khẩu đội chi phí vì gánh thêm chuẩn trong nước

VASEP cho rằng doanh nghiệp có thể phải đáp ứng thêm yêu cầu của Việt Nam dù hàng không bán trong nước, làm tăng thời gian và chi phí.

Lô thủy sản chế biến để bán ra nước ngoài có cần đáp ứng thêm yêu cầu an toàn thực phẩm của Việt Nam khi thị trường nhập khẩu không đòi hỏi? Đây là một trong những vấn đề VASEP nêu khi góp ý Dự thảo 2 Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) tại hội thảo ở Hà Nội hôm 04/09.

Bà Trần Hoàng Yến, Phó Trưởng Văn phòng đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) tại Hà Nội, cho biết kiến nghị của Hiệp hội tập trung vào ba nhóm: nguyên liệu và sản phẩm, hàng nhập khẩu, hàng xuất khẩu. Theo VASEP, việc quản lý cần dựa trên mức độ rủi ro và lịch sử tuân thủ. Sản phẩm nguy cơ cao cần được kiểm soát trước khi lưu hành. Với nhóm nguy cơ thấp, Nhà nước miễn tiền kiểm và tập trung hậu kiểm, doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm. Doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt được giảm tần suất kiểm tra, lấy mẫu

Với thực phẩm xuất khẩu, VASEP đề nghị sản phẩm chỉ phải đáp ứng quy định an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu. Theo Hiệp hội, dự thảo hiện vẫn lấy quy định của Việt Nam làm chuẩn chung. Doanh nghiệp chỉ được áp dụng yêu cầu riêng của thị trường nhập khẩu khi chứng minh được yêu cầu đó khác quy định trong nước. Trường hợp nước nhập khẩu không có quy định riêng, sản phẩm vẫn phải theo chuẩn Việt Nam. VASEP cho rằng hàng xuất khẩu được tiêu thụ ở nước ngoài, nên việc đáp ứng thêm các chỉ tiêu trong nước chỉ làm tăng chi phí và thời gian, không làm tăng an toàn cho người tiêu dùng Việt Nam.

Bà Yến đưa ví dụ về tăng cường vi chất. Doanh nghiệp chế biến xuất khẩu hiện được miễn một số yêu cầu tại Nghị định 09/2016/NĐ-CP. Theo phân tích của Hiệp hội, khoản miễn trừ sẽ mất hiệu lực khi Luật mới được áp dụng. Khi đó, doanh nghiệp có thể phải dùng muối i-ốt, bột mì bổ sung sắt, kẽm hay dầu thực vật bổ sung vitamin A để chế biến hàng xuất khẩu, dù nước nhập khẩu không yêu cầu.

Việc ghi nhãn hàng hóa cũng gặp tình huống tương tự. Với sản phẩm được khách nước ngoài nhập về để chế biến tiếp, nhà nhập khẩu không yêu cầu nhãn hàng hóa phải thể hiện đầy đủ hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản hay thành phần dinh dưỡng, giá trị dinh dưỡng. Nếu hàng xuất khẩu phải theo quy định trong nước, doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải bổ sung các nội dung này trên nhãn.

VASEP viện dẫn khoản 2 Điều 2 Nghị định 37/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Theo quy định này, tổ chức, cá nhân xuất khẩu phải bảo đảm hàng hóa xuất khẩu phù hợp với quy định của nước nhập khẩu, và không có trách nhiệm tuân thủ các quy định áp dụng cho hàng hóa lưu thông trên thị trường trong nước. Hiệp hội đề nghị Luật An toàn thực phẩm áp dụng cùng nguyên tắc: thực phẩm xuất khẩu chỉ cần đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu.


Hội thảo “Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi)" do VCCI và Ủy ban Khoa học Công nghệ Quốc Hội tổ chức ngày 04/09 - Ảnh: Vinafosa

Khâu cấp chứng thư cho từng lô hàng cũng được VASEP đề nghị thay đổi. Thay vì doanh nghiệp có lịch sử tốt nhiều năm vẫn bị kiểm tương tự cơ sở từng có cảnh báo, tần suất lấy mẫu và kiểm tra nên căn cứ vào rủi ro của sản phẩm, yêu cầu của nước nhập khẩu và quá trình tuân thủ.

Các nhà máy đã áp dụng HACCP, ISO 22000, BRCGS, FSSC 22000... thì nên giảm tần suất kiểm tra. Nguồn lực của cơ quan quản lý sẽ tập trung nhiều hơn vào sản phẩm nguy cơ cao, cơ sở từng bị cảnh báo hoặc có lịch sử vi phạm.

Theo bà Yến, Thông tư 80/2025/TT-BNNMT đang áp dụng nguyên tắc quản lý theo rủi ro trong chứng nhận an toàn thực phẩm thủy sản xuất khẩu. Cơ chế này có thể không còn nếu dự thảo giữ quy định như hiện tại, kéo thêm thời gian và chi phí cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan cấp chứng nhận.

Hàng xuất khẩu bị trả về là điểm khác mà VASEP muốn tách bạch. Một container quay lại Việt Nam có thể vì khách đổi đơn, nhãn mác, quy cách, logistics hay lý do thương mại, không nhất thiết do mất an toàn thực phẩm. Hiệp hội đề nghị có quy trình xử lý riêng theo mức độ rủi ro, thay vì mặc nhiên đặt mọi lô hàng trả về vào cùng một nhóm.

Bên cạnh đó, Doanh nghiệp có thể đổi mục đích sử dụng nguyên liệu theo cả hai chiều. Chẳng hạn, nguyên liệu ban đầu dành cho thị trường trong nước có thể chuyển sang làm hàng xuất khẩu khi đơn hàng thay đổi, miễn đáp ứng yêu cầu an toàn của mục đích mới. VASEP cho rằng cơ chế này giúp tránh phải tiêu hủy hoặc để tồn kho nguồn nguyên liệu vẫn có thể sử dụng an toàn.

Ở đầu vào nhà máy, VASEP đề xuất miễn đăng ký hoặc công bố đối với nguyên liệu B2B nguy cơ thấp. Đây là nguyên liệu bán giữa các doanh nghiệp để tiếp tục chế biến, chưa đi thẳng tới người tiêu dùng và được kiểm soát tại nhà máy trước khi trở thành sản phẩm cuối.

Mặt khác, với hoạt chất được phép sử dụng nhưng Việt Nam chưa thiết lập mức dư lượng tối đa (MRL), bà Yến đề nghị có một ngưỡng mặc định. Trường hợp chất không thể thiết lập MRL nhưng có thể xuất hiện ở lượng rất nhỏ cũng cần ngưỡng tham chiếu để cơ quan quản lý, doanh nghiệp và phòng kiểm nghiệm có cùng căn cứ xử lý. Hiệp hội dẫn EU và Nhật Bản đang dùng mức 0.01 mg/kg trong một số trường hợp chưa có MRL.

Minh Phú, EuroCham nhấn vào cách phân loại rủi ro

Cùng VASEP, một số doanh nghiệp và hiệp hội khác cũng kiến nghị tại hội thảo do VCCI phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức.

Ông Nguyễn Như Tiệp, đại diện CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú (UPCoM: MPC), nhìn nhận việc kiểm soát tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y và hóa chất trong nông, lâm, thủy sản là cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng cũng như duy trì thị trường xuất khẩu. Vấn đề ông đặt ra là phải có tiêu chí đủ rõ để biết sản phẩm nào thuộc mức rủi ro nào và bị kiểm theo cách nào.

Theo ông Tiệp, dự thảo đã thể hiện hướng quản lý dựa trên rủi ro nhưng phần tiêu chí và quy trình phân loại cần cụ thể hơn. Ông đề nghị có quy định rõ về giới hạn dư lượng tối đa mặc định với những chất chưa có mức cụ thể, đồng thời làm rõ cách chuyển đổi mục đích sử dụng thực phẩm nhập khẩu và xử lý hàng xuất khẩu bị trả về.

"Số lượng mức độ không phải vấn đề cốt lõi, quan trọng là cách thức quản lý phải thực sự dựa trên dữ liệu và rủi ro”, đại diện Minh Phú nêu quan điểm. Theo ông, việc xếp một sản phẩm vào nhóm rủi ro cao cần có tiêu chí đánh giá cụ thể, thay vì chỉ gọi tên một số nhóm sản phẩm.

EuroCham cũng ủng hộ việc quản lý theo rủi ro và đề nghị phân thực phẩm thành 3 nhóm rủi ro cao, trung bình và thấp, tương tự hướng dẫn của FAO và cách phân loại trong Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, thay vì chỉ hai nhóm cao và thấp.

Theo EuroCham, cơ chế “công bố tiêu chuẩn sản phẩm” sẽ trở thành một dạng tiền kiểm mới nếu doanh nghiệp phải nộp hồ sơ, chờ cơ quan nhà nước tiếp nhận và xử lý rồi sản phẩm mới được lưu hành. Do đó, EuroCham kiến nghị giữ cơ chế doanh nghiệp tự công bố, tự chịu trách nhiệm và có thể đưa sản phẩm ra thị trường ngay sau công bố; cơ quan quản lý dùng hậu kiểm để phát hiện, xử lý vi phạm.

Việc hậu kiểm cần tập trung vào sản phẩm thực tế, lịch sử tuân thủ và mức độ rủi ro, thay vì dành nhiều nguồn lực để kiểm lại hồ sơ của những sản phẩm đã lưu hành ổn định. Với hàng nhập khẩu, EuroCham không đồng tình với yêu cầu từng lô hàng nhập khẩu phải chờ thông báo kết quả đạt, vì nhóm đang được kiểm tra giảm sẽ phải làm thêm thủ tục cho mọi lô, thay vì chỉ 5% như hiện nay.

VASEP nhấn mạnh “Không hạ thấp yêu cầu an toàn thực phẩm, mà quản lý đúng nguy cơ, đúng đối tượng”. Theo Hiệp hội, khung pháp lý cần dựa trên cơ sở khoa học, minh bạch và tương thích với thông lệ quốc tế để giảm những chi phí tuân thủ không cần thiết mà vẫn giữ yêu cầu về an toàn thực phẩm.

Tử Kính

FILI