Khơi thông dòng vốn 408,000 tỷ đồng: Từ ưu đãi lãi suất đến nâng cao sức khỏe doanh nghiệp

21h trước

Khơi thông dòng vốn 408,000 tỷ đồng: Từ ưu đãi lãi suất đến nâng cao sức khỏe doanh nghiệp

Chương trình tín dụng hướng tới các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa được triển khai từ đầu tháng 8/2026 là một bước đi tích cực, thể hiện sự chủ động và tinh thần đồng hành của ngành ngân hàng với cộng đồng doanh nghiệp. Đến ngày 24/8, đã có 12 ngân hàng thương mại đăng ký tham gia với tổng quy mô khoảng 408,000 tỷ đồng; lãi suất cho vay thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng.

Nguồn vốn này có thể góp phần giảm chi phí tài chính, bổ sung vốn lưu động, hỗ trợ đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, để Chương trình tạo ra tác động thực chất, vấn đề không chỉ là ngân hàng có bao nhiêu vốn, mà còn là doanh nghiệp có đủ khả năng hấp thụ, sử dụng hiệu quả và hoàn trả nguồn vốn đó hay không.

Ảnh minh họa.

Khoảng cách giữa nhu cầu vốn và khả năng hấp thụ

Thách thức lớn nhất đối với tiến độ giải ngân từ nay đến cuối năm nằm ở khoảng cách giữa nhu cầu vay vốn rất lớn và số lượng doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ điều kiện tín dụng. Quy mô 408,000 tỷ đồng phản ánh khả năng cung ứng của các ngân hàng, nhưng không đồng nghĩa toàn bộ hạn mức sẽ tự động được giải ngân.

Sức khỏe của doanh nghiệp đang phục hồi nhưng chưa đồng đều giữa các ngành và từng nhóm quy mô. Một bộ phận doanh nghiệp còn đối diện với tình trạng đơn hàng thiếu ổn định, sức mua phục hồi chậm, hàng tồn kho cao, công nợ kéo dài và chi phí đầu vào biến động. Khi triển vọng thị trường chưa thật rõ ràng, doanh nghiệp có xu hướng thận trọng hơn với quyết định mở rộng đầu tư, kể cả khi được hưởng lãi suất ưu đãi.

Từ góc nhìn của doanh nghiệp vay vốn, điều cần tính toán không chỉ là lãi suất giảm được bao nhiêu, mà quan trọng hơn là khoản vay có tạo thêm doanh thu, lợi nhuận và dòng tiền đủ để trả nợ hay không. Vốn rẻ nhưng đầu ra thiếu ổn định vẫn có thể trở thành áp lực tài chính.

Ở chiều ngược lại, ngân hàng không thể vì mục tiêu tăng trưởng tín dụng mà nới lỏng các nguyên tắc an toàn. Nếu giải ngân nhanh nhưng vốn đi vào phương án thiếu khả thi, rủi ro có thể xuất hiện sau thời gian ân hạn. Bởi vậy, tiến độ cần được đặt trong quan hệ hài hòa với chất lượng tín dụng; hiệu quả sử dụng vốn phải được coi trọng hơn việc giải ngân bằng mọi giá.

Đổi mới thẩm định, không hạ chuẩn tín dụng

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, những điểm hạn chế phổ biến là vốn chủ sở hữu còn mỏng, năng lực quản trị tài chính chưa đồng bộ, hệ thống kế toán chưa phản ánh đầy đủ hoạt động thực tế và dòng tiền kinh doanh đôi khi chưa tách bạch với tài chính cá nhân. Một số doanh nghiệp có sản phẩm tốt nhưng chưa xây dựng được phương án kinh doanh đủ sức thuyết phục về thị trường, biên lợi nhuận, điểm hòa vốn và kịch bản trả nợ.

Tài sản bảo đảm cũng là một rào cản đáng kể. Nhiều doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhưng tài sản chủ yếu là máy móc, hàng hóa, hợp đồng, dữ liệu khách hàng hoặc tài sản hình thành trong tương lai, trong khi khả năng sử dụng các tài sản này để bảo đảm khoản vay còn hạn chế.

Các ngân hàng có thể hỗ trợ bằng cách đổi mới phương thức thẩm định theo hướng toàn diện, kết hợp giữa tài sản bảo đảm với dòng tiền, lịch sử giao dịch, uy tín của doanh nghiệp, năng lực quản trị, hợp đồng đầu ra, hóa đơn điện tử và vị trí trong chuỗi cung ứng. Uy tín cần được lượng hóa thông qua dữ liệu, lịch sử trả nợ, việc thực hiện nghĩa vụ thuế và mức độ tuân thủ hợp đồng, thay vì đánh giá cảm tính.

Cùng với đó, ngân hàng nên chuẩn hóa bộ hồ sơ theo từng ngành, thiết lập đầu mối tư vấn riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ xây dựng kế hoạch dòng tiền và phương án vay vốn. Các sản phẩm như tài trợ chuỗi cung ứng, bao thanh toán, cho thuê tài chính, cho vay theo doanh thu hoặc theo hợp đồng đầu ra cần được phát triển mạnh hơn. Thủ tục có thể đơn giản hóa và số hóa, nhưng không nên giản lược yêu cầu thẩm định, kiểm soát mục đích sử dụng vốn và giám sát sau giải ngân.

Không chỉ giảm lãi suất mà phải tạo thêm đơn hàng

Lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm là hỗ trợ trực tiếp và thiết thực, nhưng chưa phải điều kiện đủ để thúc đẩy giải ngân. Doanh nghiệp chỉ mạnh dạn vay khi nhìn thấy cơ hội kinh doanh, thị trường đầu ra và khả năng thu hồi vốn tương đối rõ ràng. Một khoản vay dù có chi phí thấp vẫn khó phát huy hiệu quả nếu sản phẩm thiếu sức cạnh tranh, hàng hóa tiêu thụ chậm hoặc khách hàng kéo dài thời gian thanh toán.

Do đó, chính sách tín dụng cần được kết nối với các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường. Cần tăng cường hoạt động kết nối giao thương, hội chợ thương mại trong nước và quốc tế, xúc tiến xuất khẩu; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận hệ thống phân phối, sàn thương mại điện tử, tập đoàn lớn và chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi doanh nghiệp có thêm đơn hàng và đầu ra ổn định, ngân hàng cũng có cơ sở thuận lợi hơn để thẩm định và cấp tín dụng.

Bên cạnh vốn, doanh nghiệp cần được nâng cao năng lực quản trị, hoạch định chiến lược, quản trị tài chính, xây dựng thương hiệu và phát triển sản phẩm. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nâng chuẩn hàng hóa theo tiêu chuẩn quốc tế, thực hành ESG, truy xuất nguồn gốc, quản trị chất lượng và đáp ứng yêu cầu môi trường sẽ mở rộng cơ hội tham gia các thị trường có giá trị cao.

Về phía mình, doanh nghiệp phải chủ động tái cấu trúc hoạt động, số hóa quản trị, chuẩn hóa kế toán và minh bạch dòng tiền. Dữ liệu tài chính rõ ràng không chỉ giúp tiếp cận vốn thuận lợi hơn mà còn giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro, kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả điều hành.

Phối hợp chính sách theo hướng thực chất và có trọng tâm

Để Chương trình giải ngân hiệu quả, chính sách tiền tệ cần được phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa, đầu tư, thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp. Các bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ kịp thời những vướng mắc về thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, thuế, hoàn thuế và thanh toán. Đẩy nhanh đầu tư công cũng sẽ tạo thêm đơn hàng, việc làm và hiệu ứng lan tỏa cho khu vực doanh nghiệp.

Cần nâng cao hiệu quả của các quỹ bảo lãnh tín dụng và cơ chế chia sẻ rủi ro đối với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, công nghiệp hỗ trợ và tham gia chuỗi giá trị. Đồng thời, việc kết nối dữ liệu về thuế, hóa đơn điện tử, đăng ký kinh doanh và lịch sử tín dụng sẽ giúp ngân hàng rút ngắn thời gian thẩm định, nhận diện khách hàng tốt và định giá rủi ro chính xác hơn.

Hiệu quả của Chương trình không nên chỉ được đo bằng tổng số vốn giải ngân, mà cần xem xét số doanh nghiệp thực sự tiếp cận được vốn, thời gian xử lý hồ sơ, chất lượng khoản vay, doanh thu, việc làm và giá trị gia tăng được tạo ra. Khi tín dụng ưu đãi gắn chặt với mở rộng thị trường, nâng cao quản trị, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp, nguồn vốn 408,000 tỷ đồng mới có thể chuyển hóa thành năng lực sản xuất mới và động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi

FILI