Khi Nhà nước bơm vốn cho ngân hàng để kích thích nền kinh tế

15/09/2026 08:13

Khi Nhà nước bơm vốn cho ngân hàng để kích thích nền kinh tế

Khi muốn kích thích kinh tế, người ta thường nghĩ đến giảm lãi suất hoặc bơm thêm thanh khoản vào hệ thống ngân hàng. Nhưng Trung Quốc đang sử dụng một công cụ khác ít được chú ý hơn là trực tiếp bổ sung vốn chủ sở hữu cho các ngân hàng lớn. Đằng sau biện pháp này là một logic khá đơn giản. Ngân hàng có thể có tiền để cho vay, nhưng nếu thiếu vốn tự có, khả năng mở rộng tín dụng vẫn bị giới hạn. Vì vậy, tăng vốn cho ngân hàng cũng có thể trở thành một công cụ hỗ trợ nền kinh tế.

Một cách “bơm tiền” khác

Đầu tháng 9/2026, Trung Quốc công bố một đợt tăng vốn mới cho các định chế tài chính nhà nước. Bộ Tài chính dự kiến phát hành 300 tỷ nhân dân tệ trái phiếu đặc biệt để tài trợ một phần chương trình này. Tính cả nguồn vốn từ các cổ đông khác, quy mô tăng vốn cho các ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước lên khoảng 54 tỷ USD.

Trong nhóm ngân hàng, Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc dự kiến huy động 160 tỷ nhân dân tệ, Ngân hàng Công Thương Trung Quốc khoảng 100 tỷ nhân dân tệ, chủ yếu để bổ sung vốn cấp 1 cốt lõi (Core Tier 1 Capital). Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc cũng được tăng thêm 30 tỷ nhân dân tệ.

Gọi đây đơn giản là một đợt “bơm tiền” có thể gây nhầm lẫn. Bắc Kinh không chỉ đưa thêm thanh khoản vào hệ thống ngân hàng. Nhà nước đang đưa thêm vốn chủ sở hữu vào bảng cân đối của các định chế tài chính. Sự khác biệt này rất quan trọng vì có tiền chưa chắc đã cho vay được

Một ngân hàng cần tiền gửi và các nguồn vốn huy động khác để tài trợ hoạt động cho vay. Nhưng ngân hàng cũng cần vốn tự có để hấp thụ những khoản thua lỗ có thể xảy ra. Theo lý thuyết, hai nguồn lực này thực hiện hai chức năng khác nhau.

Thanh khoản trả lời câu hỏi ngân hàng có đủ tiền để đáp ứng các nghĩa vụ và tài trợ hoạt động hay không. Vốn tự có trả lời câu hỏi ngân hàng có đủ sức chịu rủi ro để mở rộng tài sản hay không.

Khi ngân hàng cho vay thêm, tài sản có rủi ro tăng. Các quy định an toàn vốn yêu cầu ngân hàng duy trì một lượng vốn nhất định so với tài sản có trọng số rủi ro. Nếu tỷ lệ an toàn vốn đã tiến gần giới hạn, có thêm tiền gửi chưa chắc cho phép ngân hàng tiếp tục mở rộng tín dụng với cùng tốc độ.

Thử hình dung một ngân hàng huy động thêm được 100 đồng tiền gửi. Về nguồn vốn, ngân hàng có thêm tiền để cho vay. Nhưng nếu vốn tự có đã trở thành ràng buộc, ngân hàng không thể đơn giản biến toàn bộ số tiền đó thành các khoản vay mới.

Chính bổ sung vốn chủ sở hữu sẽ làm thay đổi ràng buộc này. Vốn cấp 1 cốt lõi cao hơn giúp ngân hàng có thêm bộ đệm hấp thụ tổn thất và tạo dư địa để mở rộng tài sản, trong đó có cho vay.

Đó là lý do tăng vốn ngân hàng cũng có thể trở thành một công cụ hỗ trợ tăng trưởng.

Ba cách hỗ trợ tín dụng khác nhau

Sự khác biệt phân tích như trên giúp phân biệt ba biện pháp thường được gọi chung là “nới lỏng”.

Ngân hàng trung ương có thể hạ lãi suất, qua đó giảm chi phí vay và khuyến khích doanh nghiệp, hộ gia đình tăng nhu cầu tín dụng.

Ngân hàng trung ương cũng có thể bơm thanh khoản hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giúp các ngân hàng có nguồn tiền thuận lợi hơn để tài trợ hoạt động.

Nhưng nếu giới hạn nằm ở vốn tự có, hai biện pháp trên chưa chắc giải quyết được vấn đề. Khi đó, tăng vốn chủ sở hữu mới trực tiếp làm tăng khả năng chịu rủi ro và mở rộng tài sản của ngân hàng.

Nói đơn giản, lãi suất tác động đến giá của tín dụng, thanh khoản tác động đến nguồn tiền, còn vốn tự có tác động đến khả năng chịu rủi ro của ngân hàng.

Như vậy, có thể kết luận rằng ba vấn đề có liên hệ với nhau, nhưng không phải là một.

Vì sao Trung Quốc chọn cách này?

Đợt tăng vốn như trên xuất hiện trong một bối cảnh khá đặc biệt. Tăng trưởng tín dụng của Trung Quốc đang chậm lại, trong khi các ngân hàng chịu sức ép duy trì lãi suất thấp để hỗ trợ nền kinh tế. Điều này làm biên lãi ròng và khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng bị thu hẹp.

Bắc Kinh vì vậy đứng trước một bài toán không dễ giải.

Nhà nước muốn các ngân hàng tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế, nhưng mở rộng tín dụng đồng nghĩa bảng cân đối ngân hàng tiếp tục phình ra. Nếu vốn tự có không tăng tương ứng, bộ đệm an toàn của hệ thống sẽ dần mỏng đi. Chính việc tăng vốn giúp giảm bớt mâu thuẫn này.

Điểm đáng chú ý hơn nằm ở cách Nhà nước thực hiện. Chính phủ phát hành trái phiếu đặc biệt, sau đó sử dụng nguồn lực tài khóa để tăng vốn cho các ngân hàng mà Nhà nước đồng thời là cổ đông lớn. Nguồn lực của khu vực công vì thế được chuyển thành vốn tự có của hệ thống ngân hàng, qua đó củng cố khả năng chịu rủi ro và tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng. Đây không hoàn toàn là chính sách tiền tệ theo nghĩa thông thường. Thay vì ngân hàng trung ương hạ lãi suất hay cung cấp thêm thanh khoản, Chính phủ sử dụng công cụ tài khóa để tăng năng lực tài chính của các ngân hàng. Chính sách tài khóa và hoạt động tín dụng ngân hàng vì thế được kết nối ngay trên bảng cân đối của các định chế tài chính.

Nhưng ngân hàng khỏe hơn chưa chắc nền kinh tế sẽ vay nhiều hơn

Đây cũng là giới hạn quan trọng nhất của chính sách vì tăng vốn có thể làm ngân hàng có khả năng cho vay nhiều hơn, nhưng không thể buộc doanh nghiệp và hộ gia đình muốn vay nhiều hơn.

Trung Quốc hiện không chỉ có vấn đề về phía cung tín dụng. Sự suy yếu kéo dài của thị trường bất động sản, niềm tin của khu vực tư nhân và lợi suất kỳ vọng thấp của nhiều dự án đầu tư cũng làm nhu cầu tín dụng suy yếu.

Nếu một doanh nghiệp không nhìn thấy cơ hội đầu tư có lợi nhuận, việc ngân hàng có thêm vốn hay giảm lãi suất chưa chắc khiến doanh nghiệp vay thêm.

Vì vậy, tăng vốn có thể tháo một ràng buộc trên bảng cân đối ngân hàng nhưng không thể thay thế những chính sách nhằm phục hồi sức cầu, niềm tin doanh nghiệp và năng suất. Làm cho ngân hàng có khả năng cho vay là một chuyện. Làm cho nền kinh tế có những dự án đáng để vay lại là chuyện khác.

Việt Nam và những ràng buộc của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)

Câu chuyện Trung Quốc có liên hệ trực tiếp với Việt Nam, nơi tín dụng ngân hàng vẫn đóng vai trò rất lớn trong tài trợ nền kinh tế. Nhưng sẽ là đi một bước quá xa nếu từ kinh nghiệm Trung Quốc, chúng ta đi đến kết luận Việt Nam cũng nên tăng vốn ngân hàng để kích thích tăng trưởng.

Trước hết, NHNN phải đồng thời theo đuổi nhiều mục tiêu. Bên cạnh hỗ trợ tăng trưởng còn có kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Trong một nền kinh tế có độ mở thương mại cao như Việt Nam, dư địa giảm lãi suất và mở rộng thanh khoản còn chịu ảnh hưởng của USD, lãi suất quốc tế và các dòng vốn.

Nếu tín dụng tăng quá nhanh trong khi chênh lệch lãi suất giữa VND và USD trở nên bất lợi, áp lực có thể chuyển sang tỷ giá. Nếu NHNN phải bán ngoại tệ để ổn định thị trường, một phần thanh khoản tiền đồng lại bị hút khỏi hệ thống. Hỗ trợ tăng trưởng vì thế không thể tách khỏi ràng buộc bên ngoài.

Ràng buộc thứ hai nằm trong chính hệ thống ngân hàng. Khi tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi, ngân hàng phải cạnh tranh huy động vốn hoặc tìm thêm nguồn tài trợ khác. Khi đó, vấn đề không chỉ là tỷ lệ an toàn vốn mà còn là khả năng duy trì nguồn vốn ổn định với chi phí hợp lý.

Ràng buộc thứ ba là chất lượng tài sản. Vốn ngân hàng không chỉ dùng để hỗ trợ tín dụng mới mà còn phải hấp thụ tổn thất của các khoản vay cũ. Khi nợ xấu và chi phí dự phòng tăng, một phần vốn mới trước hết phải được sử dụng để củng cố bảng cân đối, thay vì chuyển ngay thành năng lực cho vay mới.

Cuối cùng là một ràng buộc mang tính cấu trúc. Nếu nền kinh tế cần tín dụng ngân hàng tăng nhanh năm này qua năm khác để duy trì tăng trưởng cao, câu hỏi không thể chỉ là làm thế nào để các ngân hàng có thêm vốn nhằm tiếp tục cho vay, mà còn là tại sao một phần quá lớn nhu cầu vốn trung và dài hạn vẫn đi qua bảng cân đối ngân hàng.

Ngân hàng có thể tăng vốn, nhưng không thể tăng vô hạn.

Việt Nam vì thế cần đồng thời củng cố vốn của hệ thống ngân hàng và phát triển những con đường khác đưa tiết kiệm vào đầu tư dài hạn, từ trái phiếu doanh nghiệp, thị trường cổ phiếu đến bảo hiểm, quỹ đầu tư và các nhà đầu tư tổ chức.

Điều đó cũng giúp giảm một ràng buộc căn bản đối với NHNN. Khi ngân hàng phải gánh quá nhiều trách nhiệm tài trợ tăng trưởng, chính sách tiền tệ sẽ liên tục đứng giữa những mục tiêu khó dung hòa là tăng tín dụng, giữ lãi suất hợp lý, ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống.

Kinh nghiệm Trung Quốc vì vậy gợi ra một bài học rộng hơn. Bài toán tăng trưởng tín dụng không chỉ là bài toán có bao nhiêu tiền trong hệ thống. Nó còn là bài toán vốn ngân hàng, chất lượng tài sản và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Xa hơn nữa, đó là câu chuyện về một kiến trúc tài chính trong đó ngân hàng không phải là con đường gần như duy nhất để đưa vốn từ người tiết kiệm đến người đầu tư.

PGS Trương Quang Thông - Trường Kinh doanh – Đại học Kinh tế TP.HCM

FILI