Di dời trường đại học: Mở rộng không gian tri thức, kiến tạo những cực tăng trưởng mới
Di dời trường đại học: Mở rộng không gian tri thức, kiến tạo những cực tăng trưởng mới
Chủ trương di dời, mở rộng một số trường đại học ra khỏi khu vực trung tâm không nên được nhìn nhận đơn thuần như một giải pháp giảm ùn tắc hoặc giãn mật độ dân cư. Ở tầm chiến lược, đây là quá trình tái phân bổ nguồn lực về đất đai, hạ tầng, dân số, tri thức và việc làm; qua đó vừa tạo điều kiện tái thiết nội đô, vừa mở ra những không gian phát triển mới cho các địa phương tiếp nhận.

Vấn đề quan trọng hiện nay không chỉ là xác định trường nào cần di dời, mà còn phải trả lời thuyết phục ba câu hỏi: Cơ sở mới sẽ được đặt ở đâu để phát huy hiệu quả cao nhất? Khu đất cũ sẽ được sử dụng như thế nào? Và nguồn lực nào bảo đảm quá trình di dời không làm gián đoạn hoạt động đào tạo, nghiên cứu?
Không chỉ chuyển địa điểm, mà phải nâng tầm đại học
Nhiều trường đại học trong nội đô được xây dựng từ lâu, quỹ đất hạn chế, khó mở rộng phòng thí nghiệm, thư viện, khu thể thao, ký túc xá và trung tâm nghiên cứu. Việc phát triển cơ sở mới tại khu vực có quỹ đất phù hợp sẽ tạo điều kiện xây dựng môi trường đào tạo hiện đại, đồng bộ và có dư địa phát triển dài hạn.
Tuy nhiên, di dời sẽ khó đạt mục tiêu nếu cơ sở mới nằm biệt lập, thiếu giao thông công cộng, nhà ở, y tế và các dịch vụ thiết yếu. Khi đó, áp lực đi lại và sinh hoạt của sinh viên, giảng viên có thể tăng lên; còn gánh nặng đô thị chỉ được chuyển từ khu vực trung tâm ra vùng ven.
Vì vậy, hạ tầng phải đi trước một bước. Trước khi chuyển quy mô đào tạo lớn, cần hoàn thiện hệ thống giao thông kết nối, ký túc xá, nhà ở cho giảng viên và chuyên gia, cơ sở y tế, không gian văn hóa – thể thao cùng các dịch vụ phục vụ đời sống. Đây không phải phần việc hỗ trợ, mà là điều kiện quyết định sự thành công của chủ trương.
Lấy trường đại học làm hạt nhân phát triển địa phương
Địa điểm tiếp nhận trường đại học cần được lựa chọn trong mối liên hệ với khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm dịch vụ, vùng du lịch hoặc những khu vực được định hướng trở thành cực tăng trưởng mới. Mục tiêu không phải tạo ra một “ốc đảo giáo dục”, mà là hình thành đô thị đại học có đầy đủ chức năng học tập, nghiên cứu, sinh sống, làm việc và đổi mới sáng tạo.
Sự hiện diện của hàng nghìn sinh viên, giảng viên và chuyên gia sẽ tạo ra nhu cầu ổn định về nhà ở, ăn uống, bán lẻ, giao thông, y tế, tài chính, văn hóa và giải trí. Đây là cơ hội để doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh địa phương phát triển dịch vụ; tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và từng bước cải thiện diện mạo đô thị.
Tác động sâu hơn nằm ở chất lượng nguồn nhân lực. Khi chương trình đào tạo được xây dựng theo nhu cầu thực tế, trường đại học có thể cung cấp nhân lực cho công nghiệp, công nghệ, tài chính, du lịch, dịch vụ và nông nghiệp hiện đại. Sinh viên được thực tập, làm việc và khởi nghiệp ngay tại địa phương cũng có nhiều khả năng ở lại lập nghiệp, góp phần phân bổ nhân lực chất lượng cao hợp lý hơn giữa các vùng.
Một địa phương có trường đại học uy tín, nguồn nhân lực dồi dào và năng lực nghiên cứu tốt sẽ nâng cao sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Trong lựa chọn địa điểm, doanh nghiệp ngày càng quan tâm không chỉ đến đất đai và giao thông, mà còn đến khả năng tuyển dụng, tiếp cận chuyên gia, đổi mới công nghệ và hợp tác nghiên cứu.
Hình thành hệ sinh thái đại học – doanh nghiệp – R&D
Giá trị lớn nhất của quá trình di dời sẽ được tạo ra khi trường đại học trở thành trung tâm của hệ sinh thái đại học – doanh nghiệp – nghiên cứu và phát triển (R&D).
Trong mô hình này, trường đại học cung cấp tri thức, nguồn nhân lực và sáng kiến; doanh nghiệp đặt hàng đào tạo, tiếp nhận sinh viên thực tập và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; trung tâm R&D kết nối nghiên cứu với nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Định hướng quy hoạch quốc gia cũng nhấn mạnh việc di dời, mở rộng cơ sở giáo dục đại học cần gắn với xây dựng các khu đô thị đại học.
Để mô hình này vận hành thực chất, địa phương nên dành quỹ đất cho doanh nghiệp công nghệ, phòng thí nghiệm dùng chung, vườn ươm khởi nghiệp và trung tâm chuyển giao công nghệ. Đồng thời, cần khảo sát nhu cầu nhân lực theo từng ngành để nhà trường điều chỉnh chương trình đào tạo, nghiên cứu ứng dụng và kế hoạch tuyển sinh.
Một cơ chế phối hợp thường xuyên giữa chính quyền, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp cũng cần được thiết lập. Cơ chế này có thể cùng giải quyết các vấn đề về quy hoạch, hạ tầng, đặt hàng đào tạo, thực tập, tuyển dụng, nghiên cứu ứng dụng và hỗ trợ khởi nghiệp. Hiệu quả nên được đo bằng số việc làm tạo ra, tỷ lệ sinh viên có việc làm tại địa phương, số dự án hợp tác nghiên cứu và lượng doanh nghiệp tham gia hệ sinh thái.
Khai thác quỹ đất cũ nhưng không tạo thêm áp lực nội đô
Quỹ đất của các trường sau di dời là nguồn lực có giá trị đặc biệt. Tuy nhiên, giá trị lớn nhất không chỉ nằm ở khả năng khai thác thương mại, mà còn ở cơ hội tái thiết đô thị và bổ sung những tiện ích công cộng còn thiếu.
Phần lớn diện tích nên được ưu tiên cho công viên, không gian xanh, trung tâm văn hóa – thể thao đa năng, trường học, cơ sở nghiên cứu, bãi đỗ xe và các công trình phục vụ cộng đồng. Đây là cách trực tiếp cải thiện môi trường sống, giảm mật độ xây dựng và nâng cao chất lượng không gian nội đô.
Một phần quỹ đất có thể được nghiên cứu chuyển đổi thành nhà ở xã hội và nhà ở thương mại cao tầng nhằm bổ sung nguồn cung, phát huy hợp lý giá trị đất và tạo nguồn lực cho quá trình di dời. Tuy nhiên, quy mô phải được xác định trên cơ sở khả năng đáp ứng của giao thông, cấp thoát nước, y tế, giáo dục và môi trường. Nếu phát triển nhà ở với mật độ quá lớn, áp lực dân số có thể quay trở lại, làm giảm ý nghĩa của chủ trương giãn tải.
Nguồn thu từ phần đất khai thác thương mại cần được quản lý minh bạch và ưu tiên tái đầu tư cho cơ sở đại học mới, giao thông công cộng, nhà ở xã hội và tiện ích chung. Đây là giải pháp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, yêu cầu an sinh và lợi ích dài hạn của đô thị.
Cần một lộ trình khả thi và phù hợp từng trường
Di dời không nên thực hiện đồng loạt hoặc theo một mô hình cứng nhắc. Mỗi trường cần có đề án riêng dựa trên đặc thù đào tạo, năng lực tài chính và mức độ gắn kết với bệnh viện, viện nghiên cứu hoặc cơ quan chuyên môn trong nội đô.
Có thể duy trì cơ sở trung tâm cho nghiên cứu, đào tạo sau đại học và hợp tác quốc tế; đồng thời chuyển hoạt động đào tạo quy mô lớn, ký túc xá, trung tâm thực hành và phòng thí nghiệm đến cơ sở mới. Cách làm theo từng giai đoạn sẽ giảm xáo trộn và cho phép điều chỉnh chính sách từ thực tiễn.
Cùng với đó, cần xác định rõ trách nhiệm, nguồn vốn, tiến độ và chỉ tiêu đánh giá. Sinh viên, giảng viên và người lao động phải được thông tin sớm về kế hoạch đi lại, nhà ở, điều kiện học tập và chính sách hỗ trợ. Sự đồng thuận chỉ bền vững khi những người chịu tác động nhận thấy quyền lợi chính đáng được quan tâm và môi trường mới thực sự tốt hơn.
Thành công của quá trình di dời cần được đo bằng bốn kết quả: giảm áp lực cho nội đô; nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu; tạo việc làm, dịch vụ và nguồn nhân lực cho địa phương; đồng thời sử dụng hiệu quả quỹ đất sau di dời.
Nếu được triển khai đồng bộ, thận trọng và lấy con người làm trung tâm, di dời trường đại học sẽ không chỉ mở rộng không gian giáo dục mà còn tạo ra những cực tăng trưởng mới dựa trên tri thức. Đó là cách chuyển một yêu cầu về quy hoạch thành động lực phát triển đô thị, kinh tế và nguồn nhân lực trong dài hạn.
Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi