TPHCM và VIFC-HCMC: Cửa ngõ thu hút dòng vốn đầu tư thế hệ mới

5 giờ trước

TPHCM và VIFC-HCMC: Cửa ngõ thu hút dòng vốn đầu tư thế hệ mới

VIFC-HCMC cần trở thành một bộ điều phối phát triển, đảm nhận nhiệm vụ kết nối và điều hướng vốn quốc tế vào các ngành có giá trị gia tăng cao. Dòng vốn này được kỳ vọng giúp Việt Nam làm chủ công nghệ, tạo bước nhảy về năng suất và xây dựng những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh toàn cầu, đóng góp trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng cao dài hạn và một Việt Nam phát triển, giàu mạnh. 

Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 chiều ngày 26/10, Phiên CEO 500 Tea Connect, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM (VIFC-HCMC) đã chia sẻ vai trò của TPHCM và VIFC-HCMC trong việc thu hút dòng vốn đầu tư thế hệ mới.

Thông điệp được nhấn mạnh là VIFC-HCMC cần trở thành một bộ điều phối phát triển, đảm nhận nhiệm vụ kết nối và điều hướng vốn quốc tế vào các ngành có giá trị gia tăng cao. Dòng vốn này được kỳ vọng giúp Việt Nam làm chủ công nghệ, tạo bước nhảy về năng suất và xây dựng những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh toàn cầu, đóng góp trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng cao dài hạn và một Việt Nam phát triển, giàu mạnh.

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM (VIFC-HCMC) chia sẻ tại sự kiện chiều ngày 26/10/2026.

Thực trạng thu hút FDI và yêu cầu nâng cấp mô hình tăng trưởng

Ông Huân cho biết dữ liệu thống kê 9 tháng đầu năm 2026 cho thấy cả sức hấp dẫn của Việt Nam và yêu cầu cấp thiết phải nâng cấp mô hình tăng trưởng, khi vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 50.36 tỷ USD và vốn FDI thực hiện đạt 21.07 tỷ USD. Thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI trong lĩnh vực xuất khẩu. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 434.3 tỷ USD của 9 tháng đầu năm 2026, khu vực FDI (kể cả dầu thô) đóng góp tới 350.41 tỷ USD, tương đương 80.7%; trong khi khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 19.3%. Cơ cấu này phản ánh nền kinh tế đang dựa nhiều vào khu vực FDI, đặc biệt là ở động lực xuất khẩu, trong khi năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước chưa tương xứng. Tình trạng này khiến tăng trưởng xuất khẩu và việc làm chịu tác động lớn mỗi khi các tập đoàn quốc tế thay đổi đơn hàng, thị trường hoặc địa điểm sản xuất, do đó việc nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam là yêu cầu bắt buộc để tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, phần giá trị thực sự được tạo ra trong nước vẫn còn hạn chế. Theo dữ liệu từ OECD năm 2020, giá trị gia tăng có nguồn gốc nước ngoài chiếm khoảng 48% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam, đồng nghĩa trong 100 USD xuất khẩu thì khoảng 48 USD được tạo ra ở nước ngoài và 52 USD được tạo ra tại Việt Nam (bao gồm cả đóng góp của doanh nghiệp FDI), tỷ trọng giá trị nước ngoài này cao hơn tại Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Kim ngạch xuất khẩu lớn chưa phản ánh đầy đủ năng lực làm chủ công nghệ và phần giá trị mà doanh nghiệp Việt Nam nắm giữ khi vẫn còn nhập khẩu nhiều linh kiện, nguyên liệu và chủ yếu thực hiện gia công, lắp ráp. Nền kinh tế cần hiện diện sâu hơn ở các khâu nghiên cứu, thiết kế, linh kiện cốt lõi, sở hữu trí tuệ và phát triển thương hiệu.

Năng lực nghiên cứu và nguồn nhân lực cũng là vấn đề cần giải quyết. Báo cáo OECD năm 2026 chỉ ra trong các dự án FDI đầu tư mới được công bố giai đoạn 2020-2024, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) chỉ chiếm khoảng 1.9% tổng vốn đầu tư. Đồng thời, Báo cáo Việt Nam 2045 của Ngân hàng Thế giới công bố năm 2024 cho biết chỉ khoảng 5% lao động ngành chế biến, chế tạo thuộc nhóm kỹ năng cao. Những dữ liệu này củng cố nhận định mô hình xuất khẩu của Việt Nam còn nặng về gia công, lắp ráp, trong khi năng lực nghiên cứu và sáng tạo chưa phát triển tương xứng. Để xây dựng một nền kinh tế xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao, Việt Nam phải thu hút dòng vốn thế hệ mới gắn với R&D, đào tạo kỹ sư, hợp tác công nghệ và nâng cấp nhà cung ứng trong nước, giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao, tạo lập tài sản trí tuệ và nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

VIFC-HCMC điều phối dòng vốn phục vụ chuyển đổi cơ cấu

Từ thực trạng trên, ông Huân cho rằng VIFC-HCMC không chỉ đóng vai trò là kênh dẫn vốn mà cần trở thành bộ điều phối để điều hướng dòng vốn góp phần thay đổi cơ cấu và năng lực của nền kinh tế. Vai trò này bắt đầu từ việc chuyển các ưu tiên phát triển quốc gia thành danh mục dự án có khả năng thu hút đầu tư, thông qua sự phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, trường đại học và doanh nghiệp nhằm xác định lĩnh vực tạo giá trị cao, nhận diện khoảng trống công nghệ và kết nối nhà đầu tư phù hợp.

Trong quá trình điều phối, vốn cho nghiên cứu phải đi cùng chuyên gia và phòng thí nghiệm, vốn thương mại hóa cần gắn với khách hàng và thị trường, còn vốn cho sản xuất phải hỗ trợ hình thành chuỗi cung ứng tại Việt Nam. Sự điều phối hiệu quả sẽ giúp các nguồn lực bổ trợ lẫn nhau và tạo ra năng lực tổng hợp mà từng dự án riêng lẻ khó hình thành. Định hướng này hoàn toàn phù hợp với Nghị quyết 57-NQ/TW, trong đó xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò động lực chính của phát triển, đồng thời VIFC-HCMC sẽ giúp kết nối định hướng chiến lược đó với nguồn lực và các dự án cụ thể theo nguyên tắc thị trường và khuôn khổ pháp luật.

Hướng chuyển dịch cần thiết của kinh tế Việt Nam là mở rộng sự hiện diện từ khâu gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế, sản xuất linh kiện cốt lõi, sở hữu trí tuệ và phát triển thị trường. Nền tảng sản xuất hiện có cần được nâng cấp bằng tự động hóa và kỹ thuật tiên tiến, bởi khi doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp tham gia thiết kế, sở hữu giải pháp và thương hiệu thì vị thế đàm phán cùng phần giá trị được hưởng sẽ gia tăng đáng kể. VIFC-HCMC sẽ ưu tiên kết nối nguồn vốn cho chính những bước nâng cấp này, tạo cầu nối gắn kết doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác công nghệ và khách hàng quốc tế.

Chính sách hướng đến nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam

Định hướng điều phối dòng vốn phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đó là chú trọng chất lượng dòng vốn, đổi mới sáng tạo và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước. Các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 bao gồm đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 45-50% trong những ngành công nghiệp chủ lực, thu hút khoảng 10,000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng và hình thành từ 500 - 1,000 nhà cung ứng cấp một.

Để cụ thể hóa các mục tiêu này thành chương trình và dự án thực tế, ở cấp triển khai cần xác định rõ ngành ưu tiên, các doanh nghiệp có khả năng nâng cấp và đối tác cùng phát triển công nghệ. Chính sách thu hút đầu tư phải được gắn kết chặt chẽ với phát triển khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển thị trường vốn để nâng cao khả năng hấp thụ của toàn bộ nền kinh tế.

Lựa chọn công nghệ và các hoạt động có giá trị cao

Các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư được xác định bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng số, bán dẫn, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng sạch, vật liệu tiên tiến và tài chính số, bên cạnh việc chuẩn bị cho công nghệ lượng tử với tầm nhìn dài hạn. Trong từng ngành, nền kinh tế cần xác định rõ khâu mà Việt Nam có khả năng tạo sự khác biệt như thiết kế chip, phát triển giải pháp AI, chế tạo linh kiện hoặc sở hữu công nghệ. Việc điều hướng vốn phải dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường, chất lượng đội ngũ và khả năng lan tỏa sang các doanh nghiệp trong nước, bảo đảm mỗi dự án đều gắn liền với một bước tiến cụ thể về năng lực sản xuất và công nghệ.

Lộ trình làm chủ công nghệ và tiến tới dẫn đầu

Quá trình phát triển năng lực công nghệ được định hình qua lộ trình 3 nấc thang nối tiếp nhau, bao gồm tiếp nhận và cải tiến công nghệ, làm chủ và sáng tạo, tiến tới dẫn đầu trong một số lĩnh vực được lựa chọn. Các nấc thang này có thể diễn ra song song ở những ngành và doanh nghiệp khác nhau tùy thuộc vào điều kiện thực tế. Thước đo tiến bộ khách quan của quá trình này là năng lực thiết kế, tài sản trí tuệ được tích lũy, các sản phẩm được thương mại hóa thành công và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. VIFC-HCMC sẽ đóng vai trò kết nối nguồn vốn phù hợp với từng nấc thang, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiến lên những khâu tạo giá trị cao hơn.

Nhân lực sáng tạo quyết định khả năng làm chủ công nghệ

Bước nhảy về công nghệ đòi hỏi bước tiến tương ứng về con người. Sự chuyển dịch từ lực lượng lao động nông nghiệp và công nghiệp truyền thống sang lao động tri thức, sáng tạo đòi hỏi nền tảng số vững chắc, chuyên môn cao và cơ hội được giải quyết các bài toán thực tế. Do đó, các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần bắt tay hợp tác chặt chẽ trong toàn bộ quá trình từ đào tạo, nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm. VIFC-HCMC sẽ điều phối kết nối nguồn vốn với các chương trình phát triển nhân lực, thu hút chuyên gia giỏi và thúc đẩy hợp tác đào tạo quốc tế, đảm bảo mỗi dự án công nghệ đều góp phần hình thành đội ngũ nhân sự tại chỗ có khả năng tiếp tục cải tiến, sáng tạo và làm chủ công nghệ.

Điều phối vốn công nghệ và nhân lực vào các ngành ưu tiên

Mô hình vận hành của VIFC-HCMC với tư cách là bộ điều phối được thể hiện qua việc tổ chức sự gặp gỡ giữa vốn quốc tế, công nghệ, nhân lực và nhu cầu phát triển của Việt Nam theo từng chương trình ưu tiên. Trước hết, Trung tâm xây dựng danh mục dự án theo các cụm ngành có giá trị gia tăng cao với yêu cầu rõ ràng về công nghệ, năng lực tham gia của doanh nghiệp Việt Nam và hiệu quả kinh tế. Tiếp đó, Trung tâm thực hiện kết nối nhà đầu tư chiến lược với các quỹ mạo hiểm, vốn tăng trưởng và nguồn tài chính dài hạn phù hợp với từng giai đoạn của dự án.

Đồng thời, VIFC-HCMC phối hợp chuẩn bị nhân lực, hạ tầng nghiên cứu, đối tác công nghệ và thị trường đầu ra. Điển hình như một dự án bán dẫn sẽ được đặt trong chương trình tổng thể kết nối đào tạo kỹ sư, thiết kế, kiểm thử và phát triển nhà cung ứng, giúp các mắt xích cùng tiến bộ và tạo tác động lan tỏa ra toàn cụm ngành. Cuối cùng, kết quả điều phối được theo dõi bằng các chỉ số về năng suất, công nghệ được làm chủ, sản phẩm thương mại hóa và giá trị gia tăng tạo ra trong nước. VIFC-HCMC thực hiện vai trò này thông qua chất lượng dự án, thông tin minh bạch và kết nối lợi ích trên tinh thần tôn trọng quyền quyết định của nhà đầu tư, biến nguồn vốn thành động lực tạo bước nhảy về năng lực sản xuất và sức cạnh tranh cho nền kinh tế.

Tạo bước phát triển nhảy vọt hướng tới năm 2045

Nghị quyết Đại hội XIV đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030 và hướng tới năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, trong khi Nghị quyết 29-NQ/TW xác định tầm nhìn đưa Việt Nam thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á. Đặc biệt, tại cuộc làm việc ngày 02/03/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu xây dựng mô hình tăng trưởng 2 con số với tầm nhìn dài hạn đến năm 2045, trong đó giai đoạn trước tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn sau.

Để duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số liên tục trong khoảng 2 thập niên, Việt Nam không thể chỉ tiếp tục gia tăng vốn, lao động và công suất gia công theo cách tuần tự, mà bắt buộc phải tạo ra những bước nhảy vọt về năng suất và năng lực công nghệ dựa trên các ngành công nghệ cao, doanh nghiệp sáng tạo và khả năng làm chủ các khâu giá trị lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu. VIFC-HCMC hướng tới trở thành một thiết chế điều phối quan trọng của quá trình này thông qua việc đưa vốn đến nơi tạo ra năng lực mới, kết nối các nguồn lực để hình thành ngành công nghiệp mới và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh. Khi được thực hiện đồng bộ với cải cách thể chế, phát triển nhân lực và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đây sẽ là nền tảng vững chắc để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng cao liên tục.

Ông Huân cũng chia sẻ, mời gọi cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và các đối tác quốc tế cùng VIFC-HCMC đồng kiến tạo và đồng hành trong chặng đường phát triển mới, các đối tác sẽ cùng đầu tư vào những ngành công nghiệp tương lai, cùng phát triển công nghệ, đào tạo nhân lực và xây dựng các doanh nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu. Khát vọng tăng trưởng 2 con số của Việt Nam sẽ mở ra cơ hội lớn về thị trường, quy mô kinh doanh và khả năng sinh lời, giúp các doanh nghiệp đồng hành được hưởng thành quả và đạt mức lợi nhuận tương xứng với đóng góp của mình. VIFC-HCMC cam kết nỗ lực kết nối nguồn lực, thúc đẩy hợp tác và tạo điều kiện tối đa để các cơ hội chuyển hóa thành dự án hiệu quả, mang lại lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư và góp phần kiến tạo một Việt Nam giàu mạnh, hùng cường, nơi thành công của các đối tác quốc tế gắn liền với thành công của Việt Nam.

Cát Lam

FILI