Khi tăng trưởng tín dụng chạm vào giới hạn của nguồn vốn ngân hàng
Khi tăng trưởng tín dụng chạm vào giới hạn của nguồn vốn ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành quy định mới, theo đó tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) có thể lên tới 95%, đồng thời đưa các chuẩn thanh khoản LCR và NSFR vào lộ trình áp dụng. Đằng sau một thay đổi có vẻ khá kỹ thuật là một vấn đề lớn hơn. Tín dụng đang tăng nhanh hơn huy động vốn, trong khi nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng cao ngày càng lớn. Nếu ngân hàng tiếp tục là nguồn cung vốn chủ yếu cho nền kinh tế, thì ngoài vấn đề dư địa còn có thể cho vay thêm được bao nhiêu hơn nữa, cầu hỏi về nguồn vốn cho những khoản vay ấy sẽ đến từ đâu cũng rất đáng được quan tâm.

Những khoảng cách ngày càng rộng hơn
Đến ngày 27/07/2026, dư nợ tín dụng của toàn hệ thống đã đạt khoảng 20.26 triệu tỷ đồng, tăng 8.98% so với cuối năm trước. Trong cùng thời gian, huy động vốn chỉ tăng 5.75%. Hai con số đặt cạnh nhau cho thấy tín dụng đang chạy nhanh hơn nguồn vốn huy động.
Nhìn vào bảng cân đối của các ngân hàng, khoảng cách này còn rõ hơn. Cuối tháng 6, tổng tiền gửi khách hàng tại 30 ngân hàng thương mại trong nước vào khoảng 16.02 triệu tỷ đồng, trong khi dư nợ cho vay đã lên tới 17.04 triệu tỷ đồng, chênh lệch hơn 1 triệu tỷ đồng.
Điều này không có nghĩa hệ thống ngân hàng đang thiếu tiền theo nghĩa thông thường. Ngân hàng vẫn có thể còn nhiều nguồn vốn khác ngoài tiền gửi khách hàng. Nhưng khi tín dụng liên tục tăng nhanh hơn tiền gửi, áp lực tìm kiếm nguồn vốn mới sẽ lớn dần. Các ngân hàng phải cạnh tranh huy động, phát hành giấy tờ có giá, vay trên thị trường liên ngân hàng hoặc tìm những nguồn vốn dài hạn khác.
Vấn đề nằm ở chỗ nền kinh tế đang muốn tăng trưởng nhanh, và tăng trưởng nhanh cần đầu tư lớn. Áp lực này càng đáng chú ý khi GDP quý 3 tăng 9.95%, nhưng để đạt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% cho cả năm, quý 4 sẽ phải tăng khoảng 12.5%. Trong một hệ thống tài chính vẫn dựa nhiều vào ngân hàng như Việt Nam, việc đẩy nhanh tăng trưởng cũng đồng nghĩa nhu cầu đầu tư và nhu cầu tài trợ sẽ tiếp tục gia tăng. Một phần đáng kể của nhu cầu ấy cuối cùng vẫn quay trở lại hệ thống ngân hàng thương mại.
Tiền cho vay phải đến từ đâu đó
Một ngân hàng không thể chỉ nhìn thấy nhu cầu vay rồi tạo ra tín dụng mà không quan tâm đến cấu trúc nguồn vốn phía sau. Tiền gửi của người dân và doanh nghiệp là nguồn vốn quan trọng, nhưng một phần lớn có kỳ hạn tương đối ngắn. Trong khi đó, doanh nghiệp cần vốn trung và dài hạn để mua máy móc, xây nhà máy, phát triển bất động sản hay đầu tư hạ tầng. Ngân hàng vì thế thực hiện một chức năng kinh tế quan trọng là chuyển đổi kỳ hạn, nhưng chính chức năng này cũng tạo ra rủi ro thanh khoản.
Nếu tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi trong thời gian dài, áp lực có thể đi theo một chuỗi khá quen thuộc: ngân hàng cần huy động thêm vốn, cạnh tranh tiền gửi tăng lên, chi phí vốn tăng và dư địa giảm lãi suất cho vay bị thu hẹp. Bởi vậy, thanh khoản và nguồn vốn không hoàn toàn là một chuyện. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống khi cần thiết. Nhưng thanh khoản ngắn hạn không thể thay thế một cấu trúc nguồn vốn ổn định để tài trợ cho những tài sản dài hạn.
Đây cũng là bối cảnh đáng chú ý khi NHNN ban hành Thông tư 50/2026/TT-NHNN ngày 30/9/2026.
Câu chuyện không chỉ là nâng LDR lên 95%
Điểm dễ gây chú ý nhất của Thông tư 50 là tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) tối đa 95%, thay cho mức 85% trong khuôn khổ hiện hành. Tuy nhiên, mức mới không đơn giản được áp dụng đồng loạt ngay khi Thông tư có hiệu lực ngày 1/12/2026. Nó gắn với lộ trình áp dụng hai chuẩn thanh khoản mới là LCR và NSFR từ năm 2028; các ngân hàng đủ điều kiện cũng có thể đăng ký áp dụng sớm.
3 tỷ lệ này thực ra đặt ra 3 câu hỏi khác nhau.
LDR nhìn vào quan hệ giữa cho vay và nguồn tiền gửi. Tỷ lệ khả năng chi trả (Liquidity Coverage Ratio - LCR) xem xét đến việc ngân hàng có đủ tài sản thanh khoản chất lượng cao để chống chịu một giai đoạn căng thẳng thanh khoản ngắn hạn hay không. Trong khi đó, tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (Net Stable Funding Ratio - NSFR) lại đi xa hơn, yêu cầu những tài sản cần nguồn vốn dài hơn phải được tài trợ bằng những nguồn vốn đủ ổn định.
Theo lộ trình mới, LCR bắt đầu ở mức tối thiểu 50% từ tháng 10/2028 và tăng dần lên 100% vào năm 2033; NSFR bắt đầu ở 90% và tiến tới 100% vào năm 2030. Đặc biệt, ngân hàng đạt 100% cả LCR và NSFR sẽ không còn phải tuân thủ giới hạn LDR 95%, dù vẫn phải tính toán và báo cáo chỉ tiêu này.
Nhìn như vậy, các thay đổi quan trọng hơn con số 95%. Chính sách quản lý của SBV đang dần chuyển từ một giới hạn tương đối đơn giản sang việc xem xét kỹ hơn chất lượng thanh khoản, kỳ hạn và tính ổn định của nguồn vốn.
Thêm dư địa, nhưng không tạo thêm nguồn vốn
Nhìn bề ngoài, LDR cao hơn rõ ràng có thể tạo thêm không gian cho ngân hàng cân đối nguồn vốn và tín dụng. Một số công ty chứng khoán cũng đánh giá quy định mới làm giảm áp lực tuân thủ và tạo thêm dư địa cho vay đối với nhiều ngân hàng. Nhưng đi xà hơn, chúng ta cần phân biệt giữa dư địa pháp lý và nguồn lực kinh tế.
Nâng trần LDR không tự động làm tiền gửi của người dân tăng lên. Nó cũng không tạo thêm tiết kiệm dài hạn cho nền kinh tế. Nếu nhu cầu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn nguồn vốn ổn định, các giới hạn kinh tế cuối cùng vẫn xuất hiện ở một nơi nào đó, qua chi phí huy động, thanh khoản, kỳ hạn hoặc khả năng chịu rủi ro của ngân hàng. Nói cách khác, một giới hạn pháp lý có thể được điều chỉnh, nhưng giới hạn kinh tế của nguồn vốn thì không thể xóa bỏ bằng một thông tư.
Và đây mới là câu chuyện lớn hơn phía sau tỷ lệ LDR.
Ngân hàng không thể là kênh cung ứng vốn duy nhất
Việt Nam cần rất nhiều vốn cho hạ tầng, sản xuất, chuyển đổi năng lượng, công nghệ và khu vực doanh nghiệp. Nếu phần lớn nhu cầu đó tiếp tục đi theo con đường từ tiết kiệm sang tiền gửi ngân hàng, rồi từ ngân hàng sang tín dụng, bảng cân đối ngân hàng sẽ phải ngày càng lớn để theo kịp quy mô đầu tư của nền kinh tế.
Một diễn biến gần đây khá đáng chú ý khi đặt trong bối cảnh này. Bộ Tài chính đang xem xét khả năng phát hành trái phiếu chính phủ bằng USD lần đầu tiên kể từ năm 2014. Theo Reuters, các phương án được đề xuất có quy mô khoảng 500 triệu đến 1 tỷ USD, kỳ hạn 10 năm. Một trong những mục tiêu được đề cập là huy động vốn cho hạ tầng và giảm bớt sức ép tài trợ đang đặt lên các ngân hàng trong nước. Đây mới là phương án đang được xem xét, chưa phải quyết định phát hành.
Điều đáng chú ý không nằm ở một tỷ USD. So với quy mô tín dụng hơn 20 triệu tỷ đồng, con số đó khá nhỏ. Ý nghĩa lớn hơn nằm ở việc mở thêm một kênh huy động vốn.
Một nền kinh tế tăng trưởng cao cần nhiều kênh cùng dẫn vốn tới đầu tư: ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu, các nhà đầu tư tổ chức, FDI, vốn phát triển và thị trường vốn quốc tế. Khi một kênh gặp giới hạn, những kênh khác có thể chia sẻ áp lực.
Quay trở lại câu hỏi sau con số 95%
Thông tư 50 có thể tạo thêm dư địa cho hoạt động tín dụng, đồng thời đưa quản trị thanh khoản và nguồn vốn của ngân hàng tiến gần hơn tới các chuẩn mực Basel III. Nhưng nó cũng vô tình làm nổi bật ra một câu hỏi lớn hơn.
Nếu Việt Nam muốn duy trì tăng trưởng cao trong nhiều năm, vấn đề cuối cùng không thể chỉ là ngân hàng còn có thể cho vay thêm được bao nhiêu. Điều quan trọng hơn là nền kinh tế có thể huy động thêm bao nhiêu nguồn vốn dài hạn, và nguồn vốn ấy được phân bổ qua những kênh nào.
Khi tín dụng liên tục chạy nhanh hơn tiền gửi, giải pháp dài hạn vì thế không chỉ nằm ở việc làm rộng thêm một giới hạn trên bảng cân đối ngân hàng. Nó nằm ở việc làm rộng hơn chính kiến trúc tài chính của nền kinh tế, để tiết kiệm dài hạn có nhiều con đường hơn đi tới đầu tư dài hạn.
Và khi đó, câu hỏi “ngân hàng còn có thể cho vay bao nhiêu?” sẽ chuyển sang một câu hỏi khó trả lời hơn, nhưng quan trọng hơn: “Việt Nam cần một hệ thống tài chính như thế nào để tài trợ cho tăng trưởng cao mà không dồn phần lớn rủi ro vào một kênh duy nhất?”.
Việt Quang