Hoa Kỳ là thị trường tiềm năng nhưng doanh nghiệp cần chủ động trước rủi ro

02/10/2026 09:02

Hoa Kỳ là thị trường tiềm năng nhưng doanh nghiệp cần chủ động trước rủi ro

Để thâm nhập thị trường Hoa Kỳ, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận, chủ động nghiên cứu thị trường và lưu ý các rủi ro về chính sách, chất lượng, thanh toán và pháp lý.

Tại Hội thảo VCCI về Thị trường Hoa Kỳ 2026 với chủ đề “Cơ hội, thách thức và các giải pháp đột phá cho doanh nghiệp Việt Nam” diễn ra ngày 01/10 tại TP. HCM, ông An Thế Dũng - nguyên Tham tán thương mại tại Hoa Kỳ, nguyên Vụ trưởng, Chánh văn phòng ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế Bộ Công Thương, đã chia sẻ về tiềm năng của thị trường Hoa Kỳ và những vấn đề đặt ra với doanh nghiệp Việt Nam.

Ông An Thế Dũng, - nguyên Tham tán thương mại tại Hoa Kỳ, nguyên Vụ trưởng, Chánh văn phòng ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế Bộ Công Thương (Ảnh: Bảo Châu)

Theo ông An Thế Dũng, Hoa Kỳ là một thị trường chất lượng cao. Để có thể thâm nhập thành công, doanh nghiệp Việt cần phân tích đầy đủ ở 3 góc độ, gồm quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm.

Ở cấp độ quốc gia, quy mô thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã tăng mạnh. Ông Dũng cho biết, cách đây 20-30 năm, khi mới khôi phục quan hệ thương mại với Mỹ, kim ngạch thương mại hai chiều chỉ đạt khoảng 300 triệu USD. Sau khi Hiệp định Thương mại Song phương (BTA) được ký kết năm 2000, kim ngạch lập tức vọt lên trên 1 tỷ USD và tăng trưởng phi mã. Bộ Thương mại thời điểm đó luôn trong tình trạng quá tải vì doanh nghiệp xếp hàng nộp hồ sơ xin cấp C/O.

Hoa Kỳ là một nền kinh tế khổng lồ với quy mô thương mại lên đến 5,000 tỷ USD và tổng tiêu dùng nội địa đạt 2,000 tỷ USD. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có mạng lưới FTA tạo không gian kết nối/thay thế rộng lớn với nhiều khu vực, trong đó Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) chiếm 30% thương mại toàn cầu với 2.2 tỷ người tiêu dùng - đóng vai trò là phương án thay thế/bổ trợ rất lớn cho doanh nghiệp. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chiếm 15% thương mại tòan cầu, cùng với Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và các hiệp định với Liên minh Thuế quan Á - Âu (Nga, Belarus,…). Theo ông Dũng, mạng lưới này gần như toàn bộ mạng lưới thương mại quốc tế, tạo đệm đỡ vững chắc cho vị thế quốc gia.

Ở cấp độ doanh nghiệp, Ông Dũng cho rằng doanh nghiệp Việt đang chuyển dịch từ thế “bị động” sang “chủ động”. Nếu khoảng 10-20 năm trước, doanh nghiệp Việt e ngại, lép vế khi đàm phán quốc tế và chấp nhận cuộc chơi do đối tác áp đặt, thì khoảng 10 năm trở lại đây, họ chủ động định hình và tham gia cuộc chơi bằng năng lực, thực lực và sự tự tin của mình.

Ở cấp độ sản phẩm, ông Dũng nhận định rằng sản phẩm Việt Nam có chất lượng không thua kém các nước lớn như Trung Quốc hay các quốc gia ASEAN, song vị thế và cảm tình của thị trường đối với hàng Việt đã tăng rõ rệt.

Một ví dụ cụ thể được ông Dũng chia sẻ tại Hội chợ Fancy Food (năm 2018, trước dịch COVID-19), 2 gian hàng cùng xuất khẩu mặt hàng nghệ trắng sang Mỹ được xếp nằm kế cận nhau: một bên là gian hàng Trung Quốc, một bên là Việt Nam. Do các chính sách và chiến dịch thương mại của Mỹ đối với Trung Quốc, gian hàng nước này ít khách tham quan. Trái lại, gian hàng Việt Nam lại tấp nập khách và giao dịch liên tục từ sáng đến tối.

Những rủi ro cần lưu ý

Bên cạnh 3 góc độ trên, cần đặc biệt lưu ý 5 điểm nghẽn và rủi ro lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam hay gặp phải tại Mỹ.

Trước hết là rủi ro về cơ chế và chính sách thương mại bất thường. Theo ông Dũng, chính sách thương mại của Mỹ biến động liên tục và có độ rung lắc rất cao, nên cần thường xuyên cập nhật để tránh phát sinh chi phí ngoài dự kiến. Đơn cử, mức thuế quan dưới thời Tổng thống Donald Trump có những thay đổi bất ngờ (từ 46% giảm xuống 20%, rồi lại cộng thêm 12%). Nếu doanh nghiệp không bám sát sẽ rất dễ sập bẫy chi phí.

Tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm (FSMA/FDA) là vấn đề doanh nghiệp không thể xem nhẹ. Theo ông Dũng, Mỹ áp đặt hệ thống kiểm định chất lượng nghiêm ngặt hàng đầu thế giới. Chỉ một lỗi nhỏ về an toàn thực phẩm cũng có thể mất sự nghiệp kinh doanh. Như trường hợp, quán phở tại quận Queens, New York. Năm 2015, cơ sở này đã bị cơ quan quản lý đóng cửa vì phát hiện có chuột chạy trong bếp. Đến năm 2021, quán vẫn đóng cửa và không bao giờ xin lại được giấy phép kinh doanh.

Tập quán kinh doanh và phương thức thanh toán cũng là điểm doanh nghiệp cần điều chỉnh khi làm việc với đối tác Hoa Kỳ. Ông Dũng cho biết, trong trường học, các giảng viên thường dạy Letter of Cretdit (L/C) - thư tín dụng là phương thức an toàn nhất. Tuy nhiên, nếu đàm phán với đối tác Mỹ mà khăng khăng đòi L/C thì tỷ lệ thất bại lên đến 70%-80%. Theo ông, Doanh nghiệp Mỹ thường né L/C do chi phí mở L/C tại Mỹ cực kỳ đắt đỏ và việc mở một L/C trị giá 1-2 triệu USD trong 6 tháng sẽ làm nghẽn hạn mức tín dụng của doanh nghiệp Mỹ. Do có nhiều nguồn cung thay thế từ Ấn Độ, Thái Lan và các thị trường khác nên có thể chuyển sang nhà cung cấp khác nếu phương thức thanh toán không phù hợp.

Các phương thức thanh toán phổ biến tại Mỹ gồm D/P (Document against Payment) trả tiền xong mới nhận chứng từ; D/A (Document against Acceptance) ký cam kết trả tiền rồi lấy chứng từ (doanh nghiệp Việt Nam hay bị đối tác chiếm dụng vốn); trả sau/cho nợ vốn. Tuy nhiên, với phương thức D/A, doanh nghiệp có thể đối mặt với nguy cơ bị chiếm dụng vốn nếu khoản hợp đồng không được xây dựng chặt chẽ.

Ông Dũng dẫn chứng trường hợp doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu lô hàng trị giá 300,000-400,000 USD sang Mỹ. Sau khi khách hàng nhận hàng, phía đối tác không thanh toán và mất liên lạc. Khi Thương vụ Việt Nam hỗ trợ để làm việc với ngân hàng HSBC, phát hiện điều khoản hợp đồng quá sơ hở về phương thức thanh toán thả nổi (D/A). Kết quả là doanh nghiệp đành chấp nhận mất trắng, bị đọng vốn nhiều tháng trong đợt dịch vì không đủ cơ sở pháp lý đòi tiền.

Bên cạnh đó, tranh chấp pháp lý và chi phí kiện tụng khá lớn do hệ thống luật pháp Mỹ rất phức tạp, cũng như chi phí thuê luật sư kiện tụng tại Mỹ vô cùng đắt đỏ. Dẫn lời một luật sư, ông Dũng cho biết doanh nghiệp Việt Nam tuyệt đối không nên để xảy ra kiện tụng tại Mỹ vì khả năng thua lỗ hay mất chi phí là rất lớn. Khi xảy ra sự cố phát sinh, phương án tối ưu nhất là chủ động thỏa thuận để giảm thiểu rủi ro và thiệt hại.

Nghiên cứu sát giá cả thị trường và năng lực cung ứng nhanh là yếu tố quan trọng

Một trường hợp khác là vấn đề xuất khẩu khẩu trang thời điểm đầu dịch COVID-19. Trong giai đoạn Mỹ khan hiếm khẩu trang y tế nghiêm trọng, Thương vụ Việt Nam phải liên hệ về nước nhờ hỗ trợ nguồn cung. Doanh nghiệp Việt Nam chào giá 17 USD/hộp (giá gốc chưa thuế, phí) và phải mất cả tháng vận chuyển đường biển mới sang tới nơi. Trong khi đó, Thương vụ khảo sát thực tế tại các trung tâm người Hoa tại Mỹ, họ đã nhập sẵn kho và bán lẻ ra thị trường với giá 12 USD/hộp.

Theo ông Dũng, bài học ở đây là doanh nghiệp Việt đã thiếu sự nghiên cứu thực địa về giá cả, cũng như không đáp ứng được năng lực cung ứng ứng phó nhanh. Doanh nghiệp có thể khai thác thông tin từ các cơ quan đại diện và Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng như tại các thị trường nước ngoài. Đây là kênh cung cấp thông tin về nhu cầu mặt hàng, giá cả, quy định pháp lý, năng lực đối thủ và uy tín đối tác.

Bảo Châu

FILI