Hà Nội 4 năm liền dẫn đầu chỉ số đổi mới sáng tạo
Hà Nội 4 năm liền dẫn đầu chỉ số đổi mới sáng tạo
Hà Nội đứng đầu Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương từ 2023 đến 2026, năm nay đạt 63.8 điểm, trên TPHCM và Hải Phòng.
Bộ Khoa học và Công nghệ công bố kết quả Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2026 tại Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia ngày 04/10 ở Hà Nội.
Hà Nội đạt 63.8 điểm và giữ vị trí số một năm thứ tư liên tiếp. TPHCM đứng thứ hai với 58.3 điểm, tiếp đến là Hải Phòng 56.33 điểm, Quảng Ninh 55.24 điểm và Bắc Ninh 50.96 điểm.
Năm vị trí còn lại trong top 10 thuộc về Huế, Đà Nẵng, Thái Nguyên, Tây Ninh và Hưng Yên. Trong top 10 có 7 thành phố trực thuộc Trung ương. Xét theo vùng, miền Bắc góp 6 địa phương, miền Trung và miền Nam mỗi khu vực có 2.
Ở cuối bảng, Cao Bằng đạt 21.22 điểm, xếp thứ 34.
Công bố kết quả Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2026 - Ảnh: chinhphu.vn/Thu Giang
|
|
Top 10 PII 2026
Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương
|
|||||||||||||||||||||||
|
HẠNG 2
TPHCM
58.30
điểm
|
HẠNG 1
Hà Nội
63.80
điểm
|
HẠNG 3
Hải Phòng
56.33
điểm
|
|||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||
| Top 10 gồm 6 địa phương miền Bắc, 2 miền Trung và 2 miền Nam | |||||||||||||||||||||||
Hà Nội dẫn đầu 18/52 chỉ số thành phần
Khoảng cách giữa các địa phương không chỉ nằm ở điểm tổng. PII còn đi sâu vào 52 chỉ số thành phần để cho thấy mỗi nơi đang mạnh ở đâu.
Hà Nội đứng đầu 18 chỉ số, nhiều nhất cả nước. Phần lớn lợi thế tập trung ở nghiên cứu và phát triển (R&D), gồm nhân lực R&D, mức chi cho R&D, số tổ chức khoa học và công nghệ, tỷ lệ doanh nghiệp làm R&D và tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo.
Thủ đô cũng dẫn đầu nhiều chỉ số về tài sản trí tuệ như sáng chế, giải pháp hữu ích, giống cây trồng, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Một số chỉ tiêu về giảm nghèo và phát triển con người cũng thuộc nhóm đứng đầu.
TPHCM có 12/52 chỉ số dẫn đầu. Điểm mạnh của Thành phố trải từ tổ chức khoa học và công nghệ, hạ tầng, tín dụng cho khu vực tư nhân, tài chính vi mô đến mật độ doanh nghiệp. Các chỉ số về doanh nghiệp làm R&D, đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp mới thành lập cũng nằm trong nhóm cao nhất.
Quảng Ninh dẫn đầu 5 chỉ số, gồm hạ tầng số, tín dụng cho khu vực tư nhân, dự án đầu tư trong cụm công nghiệp, sản phẩm OCOP và tốc độ giảm nghèo.
Những con số này cũng cho thấy hai địa phương có thứ hạng gần nhau chưa chắc sở hữu cùng một thế mạnh. Một nơi có thể mạnh về nghiên cứu, nhân lực và tài sản trí tuệ, trong khi nơi khác nổi trội ở hạ tầng, thị trường hoặc môi trường doanh nghiệp.
PII không chỉ để xếp hạng
Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng PII để lượng hóa khả năng phát triển kinh tế - xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở từng địa phương. Kết quả giúp địa phương nhìn ra điểm mạnh, điểm yếu và những điều kiện còn thiếu trước khi lựa chọn chính sách cải thiện.
Cách tiếp cận này được phát triển từ Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố. Chính phủ sử dụng GII trong quản lý, điều hành từ năm 2017.
Ở bảng GII 2026, Việt Nam đứng thứ 43 trong 139 nền kinh tế, tăng một bậc so với năm trước. So với vị trí 76 năm 2013, thứ hạng đã tăng 33 bậc. Việt Nam tiếp tục đứng thứ hai trong nhóm nền kinh tế thu nhập trung bình thấp, sau Ấn Độ.
PII đưa cách đo này xuống cấp địa phương. Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với WIPO thử nghiệm bộ chỉ số tại một số tỉnh, thành từ năm 2022. Từ 2023, PII được triển khai trên toàn quốc.
Khái niệm đổi mới sáng tạo trong bộ chỉ số cũng rộng hơn hoạt động nghiên cứu chuyên nghiệp. Một doanh nghiệp đưa sản phẩm mới ra thị trường, cải tiến đáng kể quy trình sản xuất hay áp dụng công nghệ đã có theo cách mới đều có thể thuộc hoạt động đổi mới sáng tạo.
Vì vậy, thứ hạng chỉ là phần dễ nhìn thấy nhất của PII. Phần chi tiết phía sau mới cho địa phương biết nguồn lực nghiên cứu, hạ tầng, doanh nghiệp, thị trường hay kết quả đầu ra đang mạnh và yếu ở đâu.
|
Xếp hạng PII 2026
34 địa phương · Đơn vị: điểm
|
||
| Hạng | Địa phương | Điểm |
| 1 | Hà Nội | 63.80 |
| 2 | TPHCM | 58.30 |
| 3 | Hải Phòng | 56.33 |
| 4 | Quảng Ninh | 55.24 |
| 5 | Bắc Ninh | 50.96 |
| 6 | Huế | 48.47 |
| 7 | Đà Nẵng | 48.17 |
| 8 | Thái Nguyên | 47.81 |
| 9 | Tây Ninh | 46.78 |
| 10 | Hưng Yên | 46.72 |
| 11 | Phú Thọ | 46.49 |
| 12 | Khánh Hòa | 45.41 |
| 13 | Đồng Nai | 44.60 |
| 14 | Ninh Bình | 44.06 |
| 15 | Cần Thơ | 43.13 |
| 16 | Thanh Hóa | 41.36 |
| 17 | Lâm Đồng | 38.55 |
| 18 | Nghệ An | 35.77 |
| 19 | Đồng Tháp | 35.65 |
| 20 | Quảng Ngãi | 35.16 |
| 21 | Vĩnh Long | 35.06 |
| 22 | Lào Cai | 34.55 |
| 23 | Gia Lai | 34.30 |
| 24 | Đắk Lắk | 33.66 |
| 25 | Hà Tĩnh | 33.59 |
| 26 | Quảng Trị | 32.91 |
| 27 | An Giang | 32.22 |
| 28 | Lạng Sơn | 29.69 |
| 29 | Cà Mau | 29.44 |
| 30 | Lai Châu | 29.33 |
| 31 | Sơn La | 27.70 |
| 32 | Tuyên Quang | 26.81 |
| 33 | Điện Biên | 26.56 |
| 34 | Cao Bằng | 21.22 |
Tử Kính (Theo Thông tin Chính phủ)