Ngân hàng Nhà nước phản hồi những thông tin chưa chuẩn xác liên quan đến Dự thảo Thông tư phòng, chống rửa tiền

2 giờ trước

Ngân hàng Nhà nước phản hồi những thông tin chưa chuẩn xác liên quan đến Dự thảo Thông tư phòng, chống rửa tiền

Thời gian gần đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang tiến hành lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư quy định về trình tự, thủ tục giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, dư luận hiện nay đang có một số thông tin chưa đúng về bản chất pháp lý và một số quy định tại Dự thảo Thông tin. Nhằm làm rõ mục tiêu của các quy định pháp luật, NHNN đã chính thức lên tiếng phản hồi.

Hiểu chưa đúng giữa "Giám sát tổ chức (TCTD)" và "Giám sát/theo dõi cá nhân"

Hiện nay, dư luận đang có những thông tin chưa chuẩn xác khi cho rằng cơ quan quản lý đang "phòng chống rửa tiền với khách VIP, lãnh đạo ngân hàng", "đưa khách VIP, lãnh đạo ngân hàng vào diện giám sát chống rửa tiền", hoặc "những nhóm khách hàng đặc thù, khách VIP, khách hàng ưu tiên... đều phải được thống kê và theo dõi riêng biệt".

Phản hồi về vấn đề này, NHNN cho biết, theo nội dung quy định tại Dự thảo Thông tư, căn cứ khoản 2 Điều 1 và khoản 2 Điều 2 Dự thảo Thông tư, đối tượng giám sát của Thông tư này là các đối tượng báo cáo (tức các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức trung gian thanh toán...), là các pháp nhân, hoàn toàn không phải là các cá nhân khách hàng hay cá nhân lãnh đạo ngân hàng.

Về thu thập thông tin về cơ cấu tổ chức, mô hình quản trị, điều hành, kiểm soát tại đối tượng giám sát (bao gồm thông tin về Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, Tỷ lệ sở hữu, Ban kiểm soát, cổ đông lớn, quy mô vốn…): Đây là các thông tin mà các ngân hàng đang có trách nhiệm báo cáo tại Báo cáo giám sát an toàn vi mô theo quy định tại Thông tư 08/2022/TT-NHNN, Luật Tổ chức tín dụng và pháp luật về chứng khoán). Đây là các thông tin cơ bản, tổng quan phục vụ việc giám sát và đánh giá về TCTD nhìn từ góc độ cơ cấu lãnh đạo quản lý, quy mô, cấu trúc của đơn vị.

Thu thập số liệu là các chỉ tiêu đầu vào để đánh giá tổng thể rủi ro, không lập danh sách theo dõi khách hàng

Bên cạnh đó, dư luận cũng đang hiểu sai về mục đích thu thập số liệu phân loại khách hàng khi cho rằng “những nhóm khách hàng đặc thù, khách hàng VIP, khách hàng ưu tiên và khách hàng tổ chức đều phải được thống kê và theo dõi riêng biệt”, hay “dự thảo yêu cầu thống kê chuyên sâu số lượng khách hàng tổ chức đang hoạt động trong các lĩnh vực có mức độ rủi ro rửa tiền đáng quan tâm gồm: dịch vụ tài sản mã hóa, kinh doanh bất động sản và các đại lý bất động sản, kinh doanh kim loại quý, đá quý và trang sức, sòng bạc và trò chơi có thưởng”…

Đính chính thông tin này, theo dự thảo Thông tư, các TCTD có trách nhiệm báo cáo về tổng số lượng khách hàng, được phân tách thành các nhóm theo các đặc điểm khác nhau (như các nhóm khách hàng cá nhân, khách hàng tổ chức, khách VIP, khách hàng là doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực được phân loại phục vụ mục đích giám sát PCRT như tổ chức cung cấp dịch vụ chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ, sòng bạc, kinh doanh bất động sản, kinh doanh kim loại quý, đá quý và trang sức…). Các thông tin cần báo cáo và cách phân loại thông tin được quy định trên cơ sở phương pháp luận và khuyến nghị của FATF và IMF, nhằm phục vụ việc đánh giá mức độ rủi ro của TCTD xuất phát từ đặc điểm hoạt động kinh doanh và khách hàng của các TCTD. Các thông tin về khách hàng, cổ đông, người quản lý và các chủ thể liên quan được thu thập làm dữ liệu đầu vào để phân tích, đánh giá bức tranh rủi ro tổng thể của đối tượng báo cáo, không có nghĩa các chủ thể này trở thành đối tượng giám sát riêng hoặc được mặc định là có rủi ro, vi phạm quy định về phòng chống rửa tiền.

Quan điểm sai về việc mở rộng thêm các đối tượng giám sát

Cuối cùng, đang có luồng ý kiến cho rằng "việc mở rộng thêm các đối tượng từ lãnh đạo trong ngân hàng đến khách hàng VIP, các tổ chức trong những lĩnh vực có mức độ rủi ro rửa tiền đáng quan tâm thì sẽ giúp việc kiểm soát chặt chẽ hơn."

Phản bác lại quan điểm này, theo quy định tại Dự thảo Thông tư, Dự thảo Thông tư không mở rộng thêm bất kỳ "đối tượng báo cáo" hay "đối tượng giám sát" nào so với Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022. Thông tư này chỉ quy định về trình tự, thủ tục nghiệp vụ giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức thuộc phạm vi quản lý. Việc bài báo nhận định "mở rộng đối tượng từ lãnh đạo ngân hàng đến khách VIP" tạo ra cảm giác cơ quan nhà nước coi lãnh đạo ngân hàng và người gửi tiền nhiều tiền là đối tượng tiềm ẩn tội phạm, đi ngược lại nguyên tắc pháp quyền và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.

Một số thông tin hoàn thiện khuôn khổ giám sát phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực ngân hàng

Gần đây, Dự thảo Thông tư quy định trình tự, thủ tục giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng đang được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lấy ý kiến rộng rãi, với một số nội dung mới tác động trực tiếp đến cơ quan quản lý và các đối tượng giám sát.

Dự thảo Thông tư quy định về trình tự, thủ tục giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng hướng tới 3 mục tiêu trọng tâm: (i) Thể chế hóa đầy đủ, cụ thể các quy định của Luật Phòng, chống rửa tiền theo hướng đáp ứng các khuyến nghị của FATF về giám sát trên cơ sở rủi ro; (ii) Khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác giám sát hiện hành – tình trạng thiếu khuôn khổ pháp lý đồng bộ, thiếu công cụ và tiêu chí thống nhất để triển khai giám sát dựa trên rủi ro trên phạm vi toàn hệ thống; và (iii) Đáp ứng yêu cầu của hội nhập, cam kết quốc tế.

Để đạt được các mục tiêu trên, dự thảo xác lập 4 nhóm vấn đề kỹ thuật cốt lõi bao gồm:

(i) Thiết lập quy trình giám sát ba bước chặt chẽ, bắt đầu từ việc tiếp nhận, thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu, thông tin, dữ liệu; đến thực hiện các biện pháp giám sát cả tuân thủ và trên cơ sở rủi ro; và cuối cùng là xây dựng báo cáo và đề xuất biện pháp xử lý. Đây là nội dung quan trọng trong việc chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, bảo đảm tính hệ thống, nhất quán và minh bạch trong nghĩa vụ báo cáo của đối tượng giám sát cũng như trong nhiệm vụgiám sát của cơ quan giám sát.

(ii) Cụ thể hóa phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro, trong đó quy định đơn vị thực hiện giám sát sẽ sử dụng phương pháp, công cụ chấm điểm rủi ro do Thống đốc NHNN phê duyệt để phân tích, đánh giá, chấm điểm và xếp loại các đối tượng giám sát theo mức độ rủi ro rửa tiền dựa trên các trụ cột được quy định rõ trong dự thảo Thông tư. Điểm rủi ro sẽ được xác định trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro cấu trúc; rủi ro cố hữu từ khách hàng, sản phẩm, kênh phân phối, địa lý; và năng lực kiểm soát, phòng ngừa rủi ro nội bộ của từng tổ chức.

Căn cứ điểm số rủi ro, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ được xếp hạng theo ba mức rủi ro - thấp, trung bình, cao - kết quả này là một trong các căn cứ để cơ quan quản lý xác định đối tượng, tần suất, nội dung giám sát và phân bổ nguồn lực thanh tra, kiểm tra phù hợp.

(iii) Quy định rõ loại, phạm vi, thời kỳ báo cáo của thông tin, dữ liệu phục vụ giám sát. Thông tin mà các đối tượng báo cáo cần cung cấp được xác định trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành, là những dữ liệu và số liệu tổng thể phản ánh cơ cấu tổ chức, mô hình quản trị, kiểm soát nội bộ, cấu trúc sở hữu, mạng lưới hoạt động, quy mô tài sản, nguồn nhân lực, bộ phận chuyên trách PCRT; thông tin tổng hợp về quy mô và đặc điểm khách hàng; sản phẩm, dịch vụ; kênh phân phối và khu vực địa lý. Với yêu cầu và đặc điểm là phục vụ việc đánh giá mức độ rủi ro của tổ chức (đối tượng báo cáo), thông tin và số liệu cần báo cáo là các dữ liệu tổng hợp, không bao gồm các thông tin về giao dịch và khách hàng. Việc thu thập, quản lý và sử dụng thông tin phải đúng mục đích, thẩm quyền, tuân thủ quy định pháp luật về bảo mật thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

(iv) Quy định rõ việc cơ quan quản lý có trách nhiệm triển khai các biện pháp giám sát phù hợp và tương ứng với mức độ rủi ro đã xác định, trên nguyên tắc tăng cường giám sát với đối tượng và lĩnh vực có mức rủi ro cao và giảm nhẹ với đối tượng, lĩnh vực có mức độ rủi ro thấp hơn. Thay vì áp dụng biện pháp thanh tra, kiểm tra đồng đều, dàn trải, phương pháp giám sát kết hợp cả tuân thủ và trên cơ sở rủi ro và nguyên tắc áp dụng biện pháp giám sát, kiểm tra, thanh tra theo mức xếp loại rủi ro sẽ cho phép việc sử dụng hiệu quả nguồn lực của cơ quan quản lý trong lập kế hoạch và triển khai thanh tra giám sát về phòng, chống rửa tiền.

Việc chuyển đổi từ phương thức giám sát tuân thủ sang kết hợp giám sát tuân thủ và giám sát trên cơ sở rủi ro là yêu cầu và xu thế tất yếu, phù hợp với các chuẩn mực và khuyến nghị của FATF, đồng thời là đòi hỏi khách quan từ thực tiễn khi các nguy cơ và rủi ro rửa tiền trên thế giới ngày càng có xu hướng phức tạp và tinh vi.

Kết quả triển khai quy trình thu thập thông tin, chấm điểm rủi ro và thực hiện thanh tra giám sát phòng chống rửa tiền đối với các đối tượng báo cáo trong lĩnh vực ngân hàng trong gần hai năm qua là cơ sở thực tiễn quan trọng để NHNN tiến tới việc xây dựng khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện đồng bộ chức năng quan trọng này. Quá trình phối hợp chặt chẽ với gần 100 đối tượng báo cáo (các ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoại hoạt động tại Việt Nam) trong hơn 3 năm triển khai từ thí điểm quy mô nhỏ sang mở rộng với toàn hệ thống ngân hàng cho thấy khả năng đáp ứng và mức độ sẵn sàng của các ngân hàng trong công tác báo cáo, cung cấp thông tin, đồng thời cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thống kê, báo cáo đầy đủ, chính xác các thông tin theo quy định, làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro sát với thực tế. Các chuyên gia FATF trong các đánh giá liên quan mới đây cũng đã ghi nhận hướng đi đúng và cách tiếp cận phù hợp của NHNN trong giám sát về phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực ngân hàng, và khuyến nghị Việt Nam sớm nghiên cứu, mở rộng cách tiếp cận kết hợp cả giám sát tuân thủ và trên cơ sở rủi ro này sang các đối tượng báo cáo khác.

Có thể nói, dự thảo Thông tư quy định trình tự, thủ tục giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền mà NHNN đang xây dựng là bước đi cụ thể hóa định hướng tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ, hiện đại và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền, từ đó bảo vệ sự an toàn, lành mạnh của hệ thống tài chính – ngân hàng và củng cố vị thế và uy tín của Việt Nam trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế.

Hàn Đông

FILI