4 lý do cuộc khủng hoảng năng lượng tháng 9 nghiêm trọng hơn tháng 3/2026

4h trước

4 lý do cuộc khủng hoảng năng lượng tháng 9 nghiêm trọng hơn tháng 3/2026

Thị trường năng lượng tháng 9/2026 rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn nhiều cú sốc tháng 3. Kho dự trữ chiến lược Mỹ chạm sàn địa chất, tuyến đường ống vòng tránh Vịnh Ba Tư bị đánh hỏng, mùa đông đang đến gần, và nhu cầu nhập khẩu từ Trung Quốc đang tăng trở lại.

Ngày 18/9/2026, thị trường vận tải biển ghi nhận giá cước thuê tàu chở dầu siêu lớn (VLCC) chạm mức kỷ lục gần 1 triệu USD/ngày. Cùng thời điểm, giá dầu Brent neo trên 95 USD/thùng dù không có biến cố quân sự mới nào. Dòng dầu vật chất toàn cầu đang tắc nghẽn nghiêm trọng và không còn nguồn bổ sung.

Cục diện hiện tại trái ngược hoàn toàn với cú sốc tại Vịnh Ba Tư hồi tháng 3/2026 khi chiến tranh giữa Mỹ, Israel và Iran mới nổ ra. Đầu năm, phản ứng hoảng loạn đẩy giá dầu tăng vọt nhưng nhanh chóng hạ nhiệt nhờ các gói can thiệp lớn. Các định chế tài chính phương Tây khi đó tin rằng những đợt xả kho và giải pháp kỹ thuật đủ sức bù đắp lượng dầu thô bị thiếu hụt.

Đến tháng 9/2026, niềm tin vào các giải pháp hành chính đã tan vỡ trước thực tế cạn kiệt nguồn cung. Khủng hoảng năng lượng chuyển hóa từ cú sốc tâm lý ngắn hạn thành sự thiếu hụt vật chất không thể đảo ngược. 4 mắt xích an ninh phòng vệ đồng loạt sụp đổ, đẩy các thị trường tiêu thụ lớn vào tình thế bấp bênh trước mùa cao điểm.

Mùa đông đảo chiều áp lực cung cầu

Lý do đầu tiên tạo nên sự khác biệt bắt nguồn từ chu kỳ thời tiết. Vào tháng 3/2026, Bắc Bán Cầu bước vào mùa xuân ấm áp. Nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu sưởi ấm tự động giảm mạnh theo quy luật tự nhiên, giúp các nền kinh tế lớn dễ dàng hấp thụ mức gián đoạn nguồn cung mà không đối mặt nguy cơ thiếu năng lượng.

Trái lại, tháng 9 mở đầu cho mùa đông lạnh giá tại Bắc Mỹ, Châu Âu và Đông Á. Báo cáo triển vọng năng lượng tháng 9/2026 của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ chỉ ra nhu cầu dầu mỏ toàn cầu tăng thêm từ 1.6 đến 2.1 triệu thùng/ngày trong quý 4. Mức tăng phụ tải này tập trung chủ yếu vào nhiên liệu phục vụ sưởi ấm.

Áp lực mùa vụ đè nặng lên hệ thống dự trữ thương mại vốn suy kiệt sau 6 tháng gián đoạn hàng hải. Theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), tồn kho dầu thương mại khối OECD hiện thấp hơn 8% so với mức trung bình 5 năm gần nhất. Khi thời tiết chuyển lạnh, các nhà máy lọc dầu không còn nguồn đệm để hấp thụ biến động.

Đặc biệt, thị trường Châu Âu đứng trước nguy cơ thiếu hụt dầu diesel và dầu sưởi trầm trọng. Các nhà máy lọc dầu tại Đức, Pháp và Italy không thể tìm nguồn hàng thay thế từ Châu Á do đường đi qua eo biển Bab el-Mandeb để vào Biển Đỏ và Kênh đào Suez bị phong tỏa. Sự phụ thuộc vào các chuyến hàng giao ngay khiến bài toán bảo đảm an ninh năng lượng mùa đông của lục địa bế tắc.

Cơ chế thị trường khi rơi vào trạng thái thiếu hụt mùa vụ không diễn ra theo một tỷ lệ cố định kiểu tuyến tính thông thường. Khi nguồn cung vật chất không thể mở rộng, mức giá cân bằng buộc phải nhảy vọt lên những vùng rất cao nhằm kích hoạt quá trình bóp nghẹt nhu cầu. Các ngành công nghiệp nặng và hóa chất tại Châu Âu buộc phải cắt giảm công suất.

Sự đảo chiều của thời tiết biến thị trường dầu mỏ trở thành bài toán nan giải trước mùa đông. Nhưng nếu áp lực tiêu thụ gia tăng chỉ là quy luật tự nhiên, thì nguyên nhân khiến cuộc khủng hoảng tháng 9 trầm trọng bắt nguồn từ việc các van xả kỹ thuật từng dùng để cứu vãn thị trường hồi tháng 3 nay đều đã cạn sạch nguồn lực.

Sự đổ vỡ của hai nguồn cung

Yếu tố thứ hai khiến tình hình tháng 9 chuyển biến xấu là sự kiệt quệ của Kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược Mỹ. Hồi tháng 3/2026, Washington phối hợp cùng Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) thực hiện đợt xả kho kỷ lục 400 triệu thùng, trong đó Mỹ gánh 172 triệu thùng. Đòn can thiệp quy mô lớn này lập tức ghìm cương đà tăng giá dầu.

Tuy nhiên, cái giá phải trả cho sự bình ổn ngắn hạn đó là việc bào mòn gần như toàn bộ lượng dầu khả dụng của Mỹ. Dữ liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) xác nhận tồn kho chiến lược tính đến tháng 9/2026 chỉ còn 285 triệu thùng, mức thấp nhất của Mỹ kể từ năm 1982, tiệm cận các rào cản kỹ thuật.

Dầu chiến lược của Mỹ được lưu trữ trong 60 hầm muối ngầm tự nhiên tại các bang Texas và Louisiana, chứ không phải trong các bồn chứa nổi thông thường. Cơ chế khai thác đòi hỏi phải bơm nước xuống đáy hầm để đẩy dầu thô nổi lên trên. Mỗi chu kỳ xả kho như vậy hòa tan lượng muối đá lớn ở vách hầm, làm biến dạng cấu trúc địa chất và giảm độ bền công trình.

Báo cáo của Cơ quan Kiểm toán Chính phủ Mỹ cảnh báo nhiều hầm muối như BC-18 tại Bayou Choctaw đã hết chu kỳ vận hành an toàn. Viện Dầu khí Mỹ và các kỹ sư vận hành đặt mức sàn tối thiểu 300 triệu thùng nhằm tránh nứt vỡ. Mức tồn kho hiện tại đã thấp hơn ngưỡng sàn khuyến nghị.

Bên cạnh dung lượng hữu hạn, tốc độ bơm xả của hệ thống hầm ngầm này cũng đi xuống rõ rệt. Áp suất thủy tĩnh suy giảm cùng tình trạng xuống cấp giếng khoan khiến công suất xả thực tế giảm từ 4.4 triệu thùng/ngày xuống còn 2.7 triệu thùng/ngày. Độ trễ từ lúc phát lệnh đến khi dầu vào đường ống kéo dài 25 ngày, tước bỏ khả năng phản ứng nhanh.

Cùng lúc với sự tê liệt của kho dự trữ Mỹ, lý do thứ ba xuất hiện khi phao cứu sinh hạ tầng Vùng Vịnh bị đánh gãy. Vào tháng 3/2026, Ả-rập Saudi kích hoạt tối đa tuyến đường ống Đông - Tây dài 1,200 km mang tên Petroline. Tuyến ống này vận chuyển 4.8 triệu thùng dầu mỗi ngày từ Abqaiq ra cảng Yanbu ven Biển Đỏ, tránh eo biển Hormuz.

Dòng dầu cứu cánh trên bộ đã chính thức gián đoạn vào trung tuần tháng 9/2026 sau các đợt tập kích bằng máy bay không người lái. Hình ảnh vệ tinh cho thấy Trạm bơm số 8 và số 9 của tuyến Petroline hư hại nặng. Lưu lượng dầu qua đường ống lập tức tụt giảm hơn 70%, xuống dưới mức 1.2 triệu thùng/ngày.

Việc khôi phục một hệ thống đường ống áp lực cao trong điều kiện thời chiến đòi hỏi thời gian chế tạo và thay thế thiết bị từ 4 đến 6 tháng. Cùng thời điểm, lực lượng Houthi tại Yemen mở rộng kiểm soát các vị trí chiến lược tại Eo biển Bab el-Mandeb. Tình trạng này biến cảng Yanbu từ một lối thoát hiểm trở thành ngõ cụt cô lập.

Tàu chở dầu từ Yanbu không thể đi về phía nam qua Bab el-Mandeb sang Châu Á do phí bảo hiểm chiến tranh tăng vọt, trong khi hướng bắc qua Suez bị nghẽn. Các hãng vận tải buộc phải cho tàu chạy vòng qua Mũi Hảo Vọng ở Châu Phi, kéo dài hải trình thêm 14 ngày. Vòng quay đội tàu chậm lại, làm hao hụt năng lực vận chuyển.

Lực cầu Trung Quốc trở lại

Mảnh ghép cuối cùng và nguy hiểm nhất biến cuộc khủng hoảng năng lượng tháng 9 trở nên nan giải bắt nguồn từ sự đảo chiều đột ngột của lực cầu từ Trung Quốc.

Hồi đầu năm, khi chiến tranh bùng nổ tại Vịnh Ba Tư, thị trường toàn cầu đã thoát khỏi một kịch bản siêu lạm phát nhờ bước lùi bất thường của người mua dầu lớn nhất thế giới. Theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc, nhập khẩu dầu thô của nước này trong tháng 4 giảm 20%, tháng 5 giảm 29%, và chạm đáy vào tháng 6 với mức giảm tới 41%. Dữ liệu vận tải biển của Bloomberg ghi nhận khối lượng dầu nhập khẩu của Bắc Kinh rơi từ mức đỉnh 50 triệu tấn trong tháng 3 xuống chỉ còn 29 triệu tấn vào cuối tháng 6.

Động thái dừng mua ồ ạt và chuyển sang xả kho thương mại trung bình 700.000 thùng/ngày của Trung Quốc đã cắt giảm lượng cầu tương đương 5% tổng tiêu thụ dầu mỏ thế giới. Việc bên mua lớn nhất chủ động rút lui khỏi các sàn giao ngay đã tạo nên một "chiếc đệm tự nhiên" vô giá, kìm giữ đà tăng của dầu Brent.

Tuy nhiên, chiếc đệm phòng vệ đó đã biến mất khi bước sang tháng 9. Dữ liệu giám sát hải quan và hải trình tàu chở dầu xác nhận lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc đã đảo chiều tăng liên tiếp trong tháng 7 và tháng 8, phục hồi lên sát 40 triệu tấn vào cuối tháng 8.

Sau nhiều tháng tiêu hao kho thương mại nội địa và duy trì nguồn cung nhiên liệu thành phẩm cho nền kinh tế, các nhà máy lọc dầu Trung Quốc không thể tiếp tục trì hoãn việc bổ sung nguồn dầu thô nguyên liệu.

Sự trở lại của lực cầu từ Trung Quốc diễn ra vào đúng thời điểm tồi tệ nhất của cấu trúc nguồn cung thế giới. Hồi tháng 3, khi Trung Quốc giảm mua, phương Tây còn kho dự trữ SPR nguyên vẹn và các tuyến đường ống phụ trợ để điều tiết thị trường. Đến tháng 9, khi Trung Quốc tăng mua từ 29 triệu tấn lên sát 40 triệu tấn, kho dự trữ chiến lược của Mỹ đã chạm đáy 285 triệu thùng, hạ tầng đường ống Petroline bị đánh hỏng, và hải trình qua Biển Đỏ bị cắt đứt.

Khi bên tiêu thụ lớn nhất thế giới không còn đóng vai trò là "bộ giảm xóc" mà bắt đầu quay lại tranh chấp từng chuyến tàu dầu vật chất trước thềm mùa đông, mọi nỗ lực can thiệp hành chính của phương Tây đều không còn hiệu quả. Cuộc khủng hoảng tháng 9 trở thành sự kết hợp giữa một lực cầu đang trỗi dậy và một cấu trúc nguồn cung đã hoàn toàn kiệt quệ.

Đức Quyền

FILI